Sau hơn 10 năm giảng dạy và sáng tác, ông về Nam giảng dạy ở Khoa hội họa, Trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Suốt thời gian gần 40 năm hoạt động nghệ thuật, vẫn luôn giữ được nhịp độ sáng tác và giảng dạy một cách mẫu mực. Ông đã thể nghiệm nhiều thể loại như sơn dầu, sơn mài, khắc gỗ về hình tượng người lính, tình dân quân… qua những tranh như: Nữ pháo binh dân quân, Tự vệ Hà Nội, Tình quân dân, Bà mẹ kháng chiến, Dân quân miền núi, Lính kể chuyện, Trận địa mới, Lũ, Qua sông... Trong đó thành công nhất là những tranh ông vẽ bằng chất liệu sơn mài. Dưới bàn tay ông,sơn mài vừa lộng lẫy vừa chân chất, lại nêu được tình cảm đôn hậu, giản dị của con người Việt Nam.Trong những tác phẩm mới mà ông thực hiện, có một tranh ghép gốm, đó là tác phẩm sáng tác cho đài tưởng niệm ở Bến Dược (Củ Chi). Tranh này được chăm chút rất cẩn thận. Ông thận trọng trong việc tạo hình, thận trong trong việc chăm sóc từng miếng gốm, trong việc tạo nhịp cho từng động tác của bố cục. Tất cả cho thấy, ông rất nghiêm túc trong sáng tác… Chính vì vậy mà ông tạo được sự duyên dáng cho hình, lại mang tính truyền cảm cao nên từng nhân vật, từng hình khối vừa chân thật vừa mang hơi thở của cuộc sống.
Dù không ồn ào, nhưng ông cũng đoạt được những giải thưởng đáng trân trọng như: tác phẩm "Mẹ kháng chiến"giải A TLMT toàn quốc năm 1980; huy chương bạc năm 1985, với tác phẩm "Trận địa mới". Ông còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú đợt đầu, rồi giải thưởng Nhà nước 2001.
Bức tranh sơn mài “Mẹ kháng chiến” thoạt nhìn giống như hình ảnh cắt ngang một căn hầm bí mật. Trung tâm bức tranh là hình ảnh bà má miền Nam cùng người con gái đang chăm sóc chiến sĩ bị thương, xung quanh là các đồ sinh hoạt quen thuộc như chiếc làn đỏ, chai nước, cặp lồng cơm, chiếc mền kê chân…
Bức tranh không nhiều chi tiết, nhưng tác giả khéo léo sắp xếp các nhân vật để khỏa lấp gần hết không gian tranh, tạo cảm giác chật chội, ngột ngạt, thể hiện sự khó khăn, gian khổ của những chiến sĩ chiến đấu trong thành phố thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Hoàng Trầm có một điểm đặc biệt mà ít họa sĩ Việt nào với tới là ông luôn trăn trở tìm kiếm ngôn ngữ thể hiện cho hội họa Việt Nam, cụ thể là chất Nam bộ. Ông chống lại việc bắt chước nước ngoài, dù đó là những nền hội họa lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Điều này cũng giải thích tại sao Hoàng Trầm ít vẽ sơn dầu, dù sự am hiểu của ông về chất liệu này rất sâu sắc, vài tác phẩm sơn dầu rất tiêu biểu. Những tác phẩm mà ông để nhiều tâm huyết thường được thể hiện bằng chất liệu sơn mài, lụa và khắc gỗ - những kỹ thuật gắn bó lâu đời với người Việt.
Đối với sinh viên, ông là một bậc thầy khả kính. Ông ít nói, nhưng khi ông nói ra thì "có vấn đề", gợi mở cho sinh viên nhận thấy rõ những mắc mứu của mình. Ông thường xuyên khuyên học trò cố gắng học và nắm vững cơ bản, phải thấy lợi ích của từng bài và trình tự của các bài vì "có nền vững mới xây lầu cao được". Ông cũng khuyên học trò nên đi nhiều, xem nhiều. Xem rồi ngẫm nghĩ… Theo ông: thực tế cuộc sống là người thầy muôn thuở, là cái mà ngồi nhà ta không thể nào tưởng tượng ra được, "Dù vẽ tranh gì, theo phong cách gì, trường phái nào, suy cho cùng nó cũng trực tiếp hay gián tiếp bắt nguồn từ cuộc sống". Phải đi nhiều, làm việc nhiều, đừng sợ thất bại thì mới có tác phẩm tốt. Có như thế mới đi từ hiểu biết đến khám phá, sáng tạo được.
Về việc giảng dạy, ông quan niệm: đó là sự hợp tác giữa thầy và trò nhằm mục đích thực hiện quy trình và mục tiêu giáo dục. Thầy dạy, trò học, cả hai thầy trò phải thực sự làm việc. Thiếu một trong hai thì quá trình giáo dục, đào tạo sẽ bị phá vỡ. Theo ông thì học sinh thường có những ngộ nhận, đôi khi rất đáng sợ như: coi thường cơ bản, chạy theo trường phái này, trường phái nọ mà không có nội lực. "Nội lực là cả một quá trình rèn luyện". Nó hình thành từ thực tế cuộc sống, từ sự rèn luyện kỹ năng, sự học tập, hiểu biết những môn khoa học xã hội và kiến thức về các loại hình nghệ thuật khác. Họa sĩ không chỉ vẽ bằng tay mà còn bằng khối óc và con tim, bằng cảm nhận của chính mình.
0 Nhận xét