Cố họa sĩ Nam Sơn tên thật là Nguyễn Vạn Thọ (1890 – 1973). Trong truyền thống tên đệm Việt Nam, thường dùng tên "Văn", do đó nhiều tài liệu ghi tên ông là Nguyễn Văn Thọ không chính xác. Ông có nguồn gốc từ huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng sinh ra trong một gia đình có dòng dõi gia thế ở Hà Nội. Cha ông là Thư ký Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, nhưng đã qua đời khi Nam Sơn chỉ mới 4 tuổi. Mẹ ông đã nuôi con một mình trong hoàn cảnh khó khăn và được vua Bảo Đại tặng kim khánh khắc 4 chữ "Tiết hạnh khả phong" để biểu dương. Đó là một vinh dự tột bậc, rất hiếm người có được.
Ông được đặt tên là Nguyễn Vạn Thọ với hy vọng một sự "vạn an thế đức", nhưng khi ông vào đời, thầy của ông là nhà nho Phạm Như Bình đã tặng cho ông tên hiệu là Nam Sơn, hàm ý một sự vững vàng và trường thọ (Thọ tỉ Nam Sơn). Nam Sơn có năng khiếu hội họa bẩm sinh và ham mê hội họa từ nhỏ. Ông được các nhà nho Phạm Như Bình và Nguyễn Sĩ Đức dạy chữ Nho và vẽ tranh. Ông sớm tiếp xúc với nền nghệ thuật hội họa cổ Phương Đông: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản...
Sau khi tốt nghiệp Trường Bưởi, ông bắt đầu làm việc tại Sở Tài chính Đông Dương. Mặc dù công tác tài chính của ông rất bận rộn, nhưng ông vẫn dành thời gian ngoài giờ để vẽ tranh minh họa cho các báo và sách giáo khoa. Đến ngày nay, những người ở độ tuổi 70-80 trở lên không thể quên những bức tranh minh họa nho nhỏ nhưng rất sống động, rất có hồn trong bộ sách giáo khoa Quốc văn.
Năm 1923, họa sĩ Nam Sơn tham gia triển lãm Đấu xảo Hà Nội với bốn bức tranh sơn dầu, bao gồm: Nhà nho xứ Bắc, Ông già Kim Liên, Thôn nữ Bắc Kỳ và Tĩnh vật. Các nhà phê bình đánh giá đó là những bức tranh sơn dầu đầu tiên ở Việt Nam được vẽ bởi một tác giả rất tài năng.
Năm 1925, Nam Sơn cùng với họa sĩ người Pháp V. Tardieu thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1930, ông tham gia Triển lãm Hội họa Paris với tác phẩm "Chợ gạo bên sông Hồng". Đây là tác phẩm duy nhất của Việt Nam được Nhà nước Pháp mua và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia Pháp. Tuy nhiên, việc Nam Sơn là người đồng sáng lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương có lẽ vẫn chưa được nhiều người biết đến.
Từ năm 1923, ông đã có bản thảo Đề cương Mỹ thuật Việt Nam, trong đó ông lần đầu tiên đề cập đến việc xây dựng một nền mỹ thuật Việt Nam phù hợp với đặc thù dân tộc và thời đại. Ông viết rằng: “Chúng ta cần thành lập một trường Đại học để đào tạo ra những nghệ sĩ có tài năng và kiến thức để tiếp tục phát triển nền Mỹ thuật của tổ tiên, cập nhật và sáng tạo để xây dựng nên một nền Mỹ thuật Đông Phương đậm đà bản sắc Việt Nam”.
Nhiều người, kể cả sinh viên hiện nay của trường Đại học Mỹ thuật, không biết rằng họa sĩ Nam Sơn là một trong những người sáng lập trường này. Thậm chí, trước đây sách báo của chúng ta cũng không đề cập đến vấn đề này. Người Pháp là những người đầu tiên công nhận những đóng góp của họa sĩ Nam Sơn. Vị trí và vai trò của ông đã được xác nhận rõ ràng trong cuốn sách "Các trường Mỹ thuật Đông Dương" xuất bản tại Hà Nội năm 1937: "Ông Nam Sơn - giáo sư chuyên ngành bậc 2, là một trong hai người sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, giảng dạy hình hoạ và trang trí".
Họa sĩ Nam Sơn, là giáo sư giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trong 20 năm (1925-1945), đã có đóng góp quan trọng trong việc đào tạo thế hệ họa sĩ nổi tiếng của nền hội họa đương đại Việt Nam. Trong số những họa sĩ đó, chúng ta có thể kể đến các tên tuổi danh tiếng như Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Công Văn Trung, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị, Hoàng Lập Ngôn, Sĩ Ngọc, Trần Đình Thọ, Diệp Minh Châu, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Tạ Thúc Bình và Phan Kế An.
Năm 1946, Họa sĩ Nam Sơn được mời tham gia Hội đồng cố vấn của Học viện Đông Phương Bác Cổ do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Vào năm 1957, khi Hội Mỹ thuật Việt Nam được thành lập, ông được bầu vào Ban Chấp hành và giữ chức vụ này trong suốt 16 năm cho đến khi ông qua đời vào năm 1973. Có thể nói, Họa sĩ Nam Sơn đã đặt nền móng đầu tiên cho nghệ thuật Mỹ thuật Việt Nam.
Họa sĩ Nam Sơn đã tạo ra phần lớn các tác phẩm của mình theo phong cách cổ điển châu Âu, nhưng được ảnh hưởng nhiều từ hội hoạ Trung Quốc và Nhật Bản. Ông sử dụng nhiều loại chất liệu khác nhau để tạo ra những tác phẩm hội hoạ, bao gồm sơn dầu, lụa, thuốc nước, mực nho và cuối đời ông đã chủ yếu sử dụng chì son (sanguine). Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã tạo ra hơn 400 tác phẩm hội hoạ thuộc nhiều thể loại khác nhau, trong đó có một số có giá trị rất cao và đáng chú ý.
Ngôi nhà mà ông sống trong suốt cuộc đời, được ông thiết kế, vẫn được bảo tồn nguyên vẹn tại địa chỉ 68 Nguyễn Du, Hà Nội. Nơi đây còn lưu trữ nhiều tác phẩm của ông. Hằng năm, vào ngày giỗ của ông, các họa sĩ lão làng Việt Nam thường đến đây để dâng hương và tưởng nhớ ông, người được coi là người tiên phong của nghệ thuật mỹ thuật Việt Nam.
Tác phẩm tiêu biểu:
Thiếu nữ cầm quạt(1935/1936)
Thôn nữ Bắc kỳ (1935)
Chợ gạo bên sông Hồng(1928)
Nhà nho xứ Bắc(1923)
Chân dung mẹ tôi(1930)
Mượn dấu thời gian
Thiếu nữ nông thôn(1923)
0 Nhận xét