Họa sĩ Nguyễn Cao Luyện sinh năm Đinh Mùi (1907), Nguyễn Cao Luyện trưởng thành trong một gia đình nhà nho nghèo, có nề nếp ở thành phố Nam Định. Thưở nhỏ, ông có may mắn được người cho cho theo vãng cảnh đình chùa, được tiếp cận nhiều với vốn nghệ thuật dân tộc, cho nên ông sớm cảm thụ sâu sắc với vẻ đẹp kiến trúc truyền thống. Lớn lên, ông là học sinh giỏi và có năng khiếu vẽ vào bậc nhất ở trường Thành Chung, Nam Định.
Khi ông 20 tuổi, ông đã thi đỗ vào khóa III Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi học một năm khoa mỹ thuật, ông đã chuyển sang khoa kiến trúc, cùng với Hoàng Như Tiếp. Năm 1933, ông đỗ đầu khóa và được gửi sang Pháp để thực tập một năm tại Xưởng thiết kế của Le Corbusier và Auguste Perret.
Auguste Perret là một kiến trúc sư tài ba về sử dụng bê tông, các công trình của ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm sáng tạo của Nguyễn Cao Luyện. Sau khi trở về nước năm 1933, ông đã mở phòng kiến trúc tư tại địa chỉ 42 Tràng Thi, Hà Nội. Đây là văn phòng kiến trúc đầu tiên của một kiến trúc sư người Việt ở Việt Nam. Những công trình đầu tiên của ông tại Hà Nội bao gồm Bệnh viện 167 Phùng Hưng, Trường tư thục Thăng Long ở Ngõ Trạm, các biệt thự 77 Nguyễn Thái Học và 65 Lý Thường Kiệt (nay là Đại sứ quán Cộng hòa Cuba).
Ngoài hoạt động thiết kế kiến trúc, Nguyễn Cao Luyện còn tham gia giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Một trong số các học trò của ông là kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát.
Năm 1935, sau khi Hoàng Như Tiếp đến Hà Nội từ Huế, hai kiến trúc sư đồng khóa, giàu tài năng và nhiệt tình đã hợp lại như đôi bạn đồng hành. Trong thời kỳ Mặt trận Bình dân, hai người đã tới bãi Phúc Xá, Hà Nội để giúp đỡ xóm thợ và dân nghèo thành thị bằng cách thiết kế các căn nhà ánh sáng đơn giản với vật liệu rẻ tiền, nhưng vẫn tạo ra những nơi ở văn minh, hợp vệ sinh. Công trình "Nhà ánh sáng" của hai người không chỉ được đánh giá cao trong xã hội nước ta thời kỳ đó, mà còn có tiếng vang ở một số nước thuộc địa của Pháp ở châu Phi.
Năm 1939, hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Như Tiếp cùng với Nguyễn Gia Đức đã thành lập Văn phòng Kiến trúc Luyện-Tiếp-Đức. Ba người này đã đưa ra các ý tưởng mới về không gian và hình dáng của kiến trúc Việt Nam, kết hợp với ảnh hưởng từ văn hóa và kiến trúc Pháp, cùng với khai thác nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Họ đã để lại hàng chục công trình có giá trị thẩm mỹ cao, góp phần đánh dấu nét riêng trong kiến trúc Việt Nam trước Cách mạng tháng 8. Một số công trình đáng chú ý bao gồm: biệt thự số 7 Thiền Quang (nay là trụ sở Cảnh sát Hình sự PC45 Hà Nội), toà nhà tại đường Nguyễn Thái Học (nay là trụ sở Liên hiệp Hợp tác xã Việt Nam), 215 Đội Cấn và 38 Bà Triệu (Nhà in Tạp chí Cộng sản).
Ngay từ đầu của cuộc kháng chiến, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã có mặt tại Việt Bắc để đóng góp vào công tác bảo vệ và xây dựng chế độ mới. Ông đã tham gia hoạt động xã hội đa dạng và là thành viên trong ban lãnh đạo vụ kiến trúc, thuộc Bộ Giao thông công chính (tiền thân của Bộ Kiến trúc - Thủy lợi, sau này là Bộ Kiến trúc và hiện nay là Bộ Xây dựng). Ông đã đóng góp quan trọng cho sự tổ chức của ngành kiến trúc trẻ tại Việt Nam và tìm hướng đi cho nghệ thuật kiến trúc phục vụ cho cuộc kháng chiến và kiến quốc sau khi đánh bại kẻ thù.
Nguyễn Cao Luyện là một kiến trúc sư hàng đầu. Năm 1948, ông đã thành lập Hội Kiến trúc sư Việt Nam (trước đây là Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam). Với tình yêu đất nước và nghệ thuật dân tộc, ông đã tích cực tham gia cuộc kháng chiến chống giặc địch.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ông đã sâu sắc nghiên cứu về nhà ở dân gian của các dân tộc Tày, Nùng, Dao tại các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng. Cùng với đó là tìm tòi sáng tạo các kiểu nhà mới mẻ như nhà triển lãm, trụ sở ủy ban Kháng chiến hành chính, trạm y tế, trường học,... Nhiều kiểu nhà mới này đã được ông tạo ra và được in đất bằng mực tím trên giấy học sinh để phổ biến trong chiến khu Việt Bắc.
Sự đam mê của Nguyễn Cao Luyện là kiến trúc, song ông cũng tiếp tục làm việc cho Chính phủ trong nhiều tổ chức. Ông là tia lửa hun đúc sự nhiệt tình cho trường Đại học Kiến trúc Việt Nam và là người sáng tạo nên một phong cách thiết kế mang bản sắc Việt. Việc tái thiết sau chiến tranh gồm có quy hoạch đô thị và các dự án xây dựng đất nước trong nhiều Ủy ban và Bộ ngành, suốt cả cuộc đời Ông đã cống hiến tài năng nghệ thuật cho việc tái thiết đất nước.
Năm 1972, ông về hưu ở tuổi 65. Ông sống những năm cuối đời tại 6A Quang Trung, và vẫn tiếp tục thiết kế những đồ án thú vị. Ông mất vào 20h30 ngày 10/10 (con số vượng 10/10 theo tín ngưỡng khổng giáo) năm 1987, hưởng thọ 80 tuổi.
Tài sản của ông chính là niềm tin vào công trình, thích ứng với khí hậu, thiên nhiên và con người Việt Nam, là sự cần thiết tôn trọng và gây nguồn cảm hứng từ kiến trúc của ông cha ta để lại.
0 Nhận xét