NGUYỄN SỸ NGỌC

Nguyễn Sỹ Ngọc là một họa sĩ người Việt Nam, sinh ngày 25/12/1919 và mất vào ngày 6/4/1990. Ông sinh ra tại Thanh Trì, Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp khóa XIII tại Trường Mỹ thuật Đông Dương từ năm 1939 đến năm 1944, ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc từ đầu cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông tham gia Đoàn quân Nam tiến của Vệ quốc quân Việt Nam để giúp quân dân miền Nam chống Pháp và phụ trách công việc ở Đoàn kịch Kháng chiến. Sau đó, ông làm việc tại Xưởng họa Liên khu IV. Từ năm 1950 đến năm 1954, ông trở thành giảng viên tại Trường Mỹ thuật Việt Nam ở chiến khu Việt Bắc.

Sau khi miền Bắc Việt Nam giành độc lập, Nguyễn Sỹ Ngọc đã trở thành giảng viên tại Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội từ năm 1955 đến 1965. Từ năm 1965 đến 1973, ông đã cộng tác với các nghệ sĩ trong tổ sáng tác của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Sau đó, ông đã làm việc với báo Văn nghệ với vai trò họa sĩ. Ông cũng là hội viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1957 và là Ủy viên Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam khóa I trong giai đoạn từ năm 1957 đến 1983. Ngoài ra, ông đã giữ chức vụ Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1957 đến 1958.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và khi làm việc tại vùng than Quảng Ninh, Nguyễn Sỹ Ngọc đã tạo ra những tác phẩm tranh sơn mài nổi bật, biểu đạt được hình ảnh của anh hùng bộ đội Cụ Hồ, tình cảm của quân dân và cảnh lao động sản xuất của công nhân vùng than. Các tác phẩm của ông trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và thời kỳ làm việc tại vùng than Quảng Ninh được xem là những tác phẩm sơn mài xuất sắc nhất của ông.

Những tác phẩm sơn mài của Nguyễn Sỹ Ngọc mang phong cách phóng khoáng, sống động với đường nét và màu sắc tinh tế, truyền tải thành công hình ảnh anh hùng bộ đội Cụ Hồ, tình cảm quân dân và cảnh lao động sản xuất của công nhân ở vùng than với sức truyền cảm mạnh mẽ. Nguyễn Sỹ Ngọc cũng là một nhà văn sáng tạo trong lĩnh vực mỹ thuật và có nhiều bài viết xuất sắc về chủ đề này trên báo Văn nghệ. Ông đóng góp cho việc vẽ tranh minh họa và viết bài về đề tài Mỹ thuật cho báo Văn nghệ. Ngoài ra, từ những ngày đầu của cách mạng năm 1945, ông tham gia Hội Văn hoá Cứu quốc.

Sau khi tham gia các hoạt động kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Sỹ Ngọc đã làm việc tại xưởng hoạ Liên khu IV và tham gia đoàn quân Nam tiến cùng đoàn kịch Kháng chiến. Sau đó, ông trở thành giảng viên tại Trường Mỹ thuật Việt Nam tại Việt Bắc (1950-1954) và Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1955-1965). Ông cũng cộng tác với các nghệ sĩ trong tổ sáng tác của Hội Mỹ thuật Việt Nam (1965-1973) và là hoạ sĩ cho báo Văn nghệ (1973-1975). Nguyễn Sỹ Ngọc đảm nhận nhiều chức vụ trong Hội Mỹ thuật Việt Nam, bao gồm Ủy viên Ban chấp hành khoá I (1957-1983) và Phó Tổng thư ký (1957-1958).

Nguyễn Sỹ Ngọc là một nhà minh họa xuất sắc, từng sáng tác những bức tranh minh họa có giá trị như một tác phẩm đồ họa hoàn chỉnh. Trong thập niên 60 và 70, ông cộng tác với tuần báo Văn Nghệ và phác thảo chân dung một tài năng đa dạng trong sáng tác và phê bình mỹ thuật hiện đại. Ông đã đóng góp tích cực cho sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam trong thập niên mở đầu của thời kỳ Đổi mới vào những năm cuối thế kỷ 20.

Trên báo Tiền Phong số 18-23 năm 1946, họa sĩ Trần Đình Thọ đã có bài viết nhận xét về tác phẩm "Đêm" của Nguyễn Sỹ Ngọc trong mục "Khỏa thân trong Hội họa và Điêu khắc". Ông viết rằng bức tranh Đêm của Nguyễn Sỹ Ngọc đã khiến công chúng phải ngỡ ngàng bởi mấy hình khỏa thân thiếu nữ, và ông cảm thấy sự mong manh, yếu đuối của cuộc sống con người, sự kinh hãi trong bóng tối, ánh đèn xanh leo lét trên nền trời mây u ám - một tượng trưng của những ngày loạn ly.

Trong suốt sự nghiệp nghệ thuật của mình, họa sĩ Nguyễn Sỹ Ngọc đã được vinh danh bằng nhiều giải thưởng danh giá từ Đảng và Nhà nước, bao gồm Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Ba, Huy hiệu Kháng chiến chống Pháp, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam và Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

Sau khi qua đời vào năm 1990, họa sĩ Nguyễn Sỹ Ngọc được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt 2) vào năm 2000, với 4 tác phẩm sơn mài được đánh giá cao: "Tình Quân dân (Bát nước)" (1949), "Đổi ca" (1962), "Chiến dịch Điện Biên Phủ" (1980) và "Đèo nai" (1965).

Tác phẩm tiêu biểu:

- Tình quân dân hay Cái bát (1949, sơn mài)

- Đổi ca (1962, sơn mài)

- Chiến dịch Điện Biên Phủ (1980, sơn mài)

- Một ngày mới lại bắt đầu (1982, sơn mài)

- Hành quân(1980)

- Ta có phản lực bạn ơi Dân quân Cảnh Dương(1949)




Đăng nhận xét

0 Nhận xét