Năm 1933, Bùi Giáng bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu.
Năm 1936, ông vào học trường Bảo An (Điện Bàn) với thầy Lê Trí Viễn.
Năm 1939, ông ra Huế học tư thục trường trung học Thuận Hóa. Trong số các thầy của ông có Cao Xuân Huy, Hoài Thanh và Đào Duy Anh.
Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Bùi Giáng thi đỗ Chung.
Năm 1949, ông tham gia kháng chiến chống Pháp với tư cách là bộ đội xây dựng.
Năm 1950, ông đỗ kỳ thi học sinh giỏi do Liên khu V tổ chức và được cử đi học ở Hà Tĩnh. Từ Quảng Nam cuốc bộ hơn một tháng trời băng rừng núi, anh quyết định bỏ học về quê chăn bò ở vùng núi Trung Phước.
Năm 1952, sau khi thi đỗ tú tài 2 ban Văn chương tại Huế, ông nhập học Đại học Văn khoa tại Sài Gòn. Tuy nhiên, khi nhìn vào danh sách các giáo sư dạy học, ông quyết định chấm dứt việc học để bắt đầu hoạt động viết bình luận, sáng tác, dịch thuật và dạy học tại trường tư thục, theo T. Khuê.
Năm 1965, nhà ông bị cháy khiến nhiều thảo mộc của ông bị mất.
Sau đó, vào năm 1969, ông bắt đầu trải qua thời kỳ "điên rực rỡ" (chữ của Bùi Giáng) và "lang thang du hành lục tỉnh" (chữ của Bùi Giáng), trong đó có Long Xuyên và Châu Đốc.
Năm 1971, ông trở về Sài Gòn để mưu sinh. Sau những năm tháng sống "điên cuồng mê mẩn chết đi sống lại vẻ vang" (chữ của Bùi Giáng), thi sĩ Bùi Giáng mất lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn tai biến mạch máu tại bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh, trước đây là Sài Gòn). Ông được an táng tại nghĩa trang Gò Dưa, quận Thủ Đức.
Bùi Giáng đã sáng tác nhiều tác phẩm, tuy nhiên, theo thống kê chưa đầy đủ, chúng ta có thể phân loại tạm thời theo thể loại:
Tập thơ:
Mưa nguồn (1962) với 140 bài thơ.
Lá hoa cồn (1963) gồm 46 bài thơ.
Bài ca quần đảo (1963) gồm 33 bài thơ.
Mưa nguồn hòa âm (1973) với 40 bài thơ.
Đêm ngắm trăng (1997) có 108 bài thơ.
Như sương (1998) gồm 73 bài thơ.
Mười hai con mắt (2001) gồm 38 bài thơ.
Rong rêu (1995) với 18 bài thơ.
Bèo mây bờ bến (1996) gồm 12 bài thơ.
Màu hoa trên ngàn (1963) và Ngàn thu rớt hột (1963).
Sa mạc trường ca (1963) và Sa mạc phát tiết (1969).
Mùi hương xuân sắc (1987), Thơ Bùi Giáng (1994), Thơ vô tận vui (2005) và Mùa lễ tháng tư (2007).
Bùi Giáng từng có tình cảm với nữ diễn viên NSND Kim Cương khi bà còn trẻ 19. Ông bày tỏ tình cảm với bà nhưng không thành công vì bà cảm thấy ông có vẻ ngoài bất thường. Tuy nhiên, suốt một đời, Bùi Giáng vẫn giữ tình cảm đặc biệt với Kim Cương. Ông chỉ nhớ từng số điện thoại của gia đình bà và trong những tình huống khó khăn, ông cũng chỉ biết đọc số điện thoại này khi được công an thăm dò hoặc khi cấp cứu trong bệnh viện.
Trước và sau năm 1975, Bùi Giáng được nhiều người viết về và bàn luận về sự nghiệp văn chương của ông. Trong Từ điển văn học (bộ mới), nhà nghiên cứu T. Khuê đã có ý kiến đóng góp về ông.
Theo T. Khuê, ông Bùi Giáng đã viết rất nhiều, nhưng những tác phẩm còn lại chủ yếu là thơ. Từ khi mới bắt đầu sáng tác, thơ của ông đã đầy màu sắc rong chơi, lãng mạn, tinh nghịch, nhẹ nhàng và hóm hỉnh. Đó là những câu trả lời hay nhắc về ý nghĩa cuộc sống, về lẽ sống, về những chuyện phù du, dâu bể, và về khía cạnh tình dục khép kín của Hồ Xuân Hương. Từ tác phẩm của Nguyễn Du, ông đã sáng tạo nên một mô típ bạc mệnh hiện đại, vận dụng tính cách tạo hình để đưa vào những yếu tố siêu thực và hoang mang về con người và cuộc sống hiện tại.
Nguồn thơ của ông đã phát triển mạnh trong khoảng thời gian ngắn, chỉ trong hai năm 1962-1963, ông đã sáng tác được đến 6 tập thơ. Tuy nhiên, ông Bùi Giáng đã sa vào bi kịch của tác phẩm lặp lại chính mình,
Bùi Giáng là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng với những tác phẩm tranh sơn dầu, sử dụng kỹ thuật vẽ chân dung và phong cảnh. Sau đây là một số thành tựu mà ông đã đạt được trong sự nghiệp của mình:
Đạt giải Nhất Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 1960 với tác phẩm "Nông dân".
Là một trong những họa sĩ đầu tiên được tuyển chọn vào Trường Điêu khắc, Hội Viên Hội Mỹ thuật Việt Nam.
Tác phẩm "Bãi biển Trần Đề" của ông đã được bán với giá 51.000 USD tại một phiên đấu giá tại Hong Kong.
Được nhiều nhà sưu tập nổi tiếng tại Việt Nam và trên thế giới sở hữu các tác phẩm của ông.
Được tôn vinh bằng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú của Nhà nước năm 2002.
Có tác phẩm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam và nhiều bảo tàng lớn trên thế giới.
Đã tổ chức nhiều triển lãm cá nhân và tham gia nhiều triển lãm nhóm tại Việt Nam và quốc tế.
Được các chuyên gia đánh giá là một trong những họa sĩ đáng chú ý nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20.

0 Nhận xét