ĐINH CƯỜNG

Đinh Cường, hay còn được biết đến với tên thật là Đinh Văn Cường, sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một, Bình Dương và mất vào ngày 7 tháng 1 năm 2016 tại Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1963, và sau đó vào năm 1964, ông tiếp tục tốt nghiệp khóa hội hoạ của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định.

Trước khi định cư tại Hoa Kỳ, Đinh Cường đã từng sống tại nhiều địa điểm khác nhau, bao gồm Huế, Đà Lạt và Sài Gòn. Tranh của ông đã được triển lãm ở nhiều thành phố trong nước và ở nhiều quốc gia khác nhau. Ngoài ra, các tác phẩm văn học của ông liên quan đến hội hoạ cũng đã được đăng tải trên nhiều tạp chí, bao gồm Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Da Màu, Tiền Vệ...Được coi là một nghệ sĩ tài hoa, Đinh Cường đã thể hiện được bản năng sáng tạo mạnh mẽ không chỉ trong lĩnh vực tạo hình mà còn trong phê bình nghệ thuật. Ngoài ra, ông cũng có sự đóng góp đáng kể trong lĩnh vực thi ca, với những tác phẩm sâu sắc và đầy thi vị.Trong phạm vi viết này, tác giả sẽ tập trung viết về mảng hội hoạ của Đinh Cường.

Ông Đinh Cường có mối quan hệ rộng và nhiều bạn bè. Trịnh Công Sơn, người bạn thân của ông, hiểu ông rất sâu sắc và đã từng nhận xét về ông như sau: "Rong chơi là một thứ kinh vương giả trong tâm hồn Ðinh Cường. Cứ lên đường, dù cao nguyên hay biển, đã nghe thấy trong Cường vang lên một tiếng reo vui mãn nguyện. Đi không chỉ là sứ mệnh của đôi chân, mà với Cường, là lòng ngưỡng vọng linh thiêng về một tiếng gọi." Trịnh Công Sơn gọi ông là một lãng tử đam mê kỷ niệm.

Trong các bức tranh của ông, những vật thể phụ thường là chim và ngựa, tượng trưng cho sự di chuyển và đến được. Ông yêu thích những nơi đã từng sống, lưu luyến nhiều chốn đi qua, và ấp ủ những kỷ niệm đẹp để gìn giữ và chia sẻ với bạn bè. Đà Lạt, Huế, Paris, đều là những nơi ông đã để lại những dấu ấn đẹp và sâu sắc, đồng thời thể hiện lên tranh với tất cả những niềm vui, nỗi nhớ và phút thảm sầu. Các chủ đề chính trong các bức tranh của ông thường xoay quanh âm nhạc, cảnh thiên nhiên, đá, hoa, chim, ngựa và con người, đặc biệt là phụ nữ trẻ. Tranh phụ nữ của ông thường có hoa, chim, ngựa và khăn choàng. Vì các nơi mà ông sống và đi qua thường rất lạnh, vì thế các phụ nữ trong tranh của ông thường đội khăn hoặc khăn quàng giống như trong tranh Thái Tuấn.

Khi nhắc đến hoạ sĩ Đinh Cường, hầu hết khách thưởng ngoạn nghệ thuật ở miền Nam Việt Nam trong thập niên sáu mươi, bảy mươi đều biết đến ông. Thời điểm đó là thời kỳ hưng thịnh của ngành mỹ thuật Việt Nam, với sự xuất hiện của Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam vào năm 1966, với nhiều hoạ sĩ trẻ mang đầy nhiệt huyết và đang khai phá và nỗ lực tìm kiếm cái mới. Họ thường gặp gỡ nhau để trao đổi kinh nghiệm, tạo ra những đường lối sáng tạo độc đáo trong bầu không khí sinh hoạt hội hoạ trong sạch và cởi mở.

Sự khao khát phát triển nghệ thuật đã thúc đẩy các hoạ sĩ trẻ tham gia vào các cuộc thử nghiệm các trường phái nghệ thuật khác nhau, bao gồm lập thể, dã thú, biểu hiện, siêu thực, trừu tượng, vô hình dung, tân hiện thực... Các hoạ sĩ trẻ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Đỗ Quang Em, Nghiêu Đề, Lê Tài Điển, Cù Nguyễn, Nguyễn Phước, Hồ Hữu Thủ, Mai Chửng, Dương Văn Hùng, Nguyễn Lâm, Nguyễn Đồng, Hoàng Ngọc Biên, Ngy Cao Uyên, Rừng... đã tham gia tích cực trong các cuộc thử nghiệm này.

Khi nhắc đến Đinh Cường, người ta thường biết rằng ông đã đảm nhiệm chức vụ Ủy Viên Kiểm Soát trong Hội Đồng Quản Trị HHSTVN, và từ đó, ông đã bắt đầu sự nghiệp sáng tạo với lòng đam mê và sự ngây thơ. Suốt cuộc đời, ông luôn tìm kiếm và sáng tạo, thử nghiệm nhiều thể loại và trường phái khác nhau. Với một bộ sưu tập tranh khổng lồ, lên đến hàng nghìn bức, cùng với những bài viết về hội hoạ và thơ về kỷ niệm bạn bè, ông đã để lại cho những người yêu mến ông những tài sản tinh thần sâu sắc, đẹp đẽ và có ý nghĩa.

Khi nói về phần tranh chân dung, có hơn trăm bức tranh chân dung mà Đinh Cường vẽ cho những nghệ sĩ mà ông biết, từ đó tôi thấy sợi dây tình bạn kết nối ông với những người này rất dài và sâu sắc. Có thể nói Đinh Cường là một trong những hoạ sĩ Việt Nam vẽ nhiều tranh chân dung cho bạn bè nhất, còn Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn thì có nhiều tranh chân dung hơn. Tình bạn chiếm một vị trí quan trọng trong trái tim và cuộc sống tinh thần của ông. Nếu bỏ qua loạt tranh tôn giáo của ông khi xem các bức tranh của ông, đó là một thiếu sót lớn. Ông đã vẽ hơn 20 bức tranh tôn giáo, phần lớn trong số đó nói về Đạo Phật.

Trước đây, ông từng chia sẻ về nghệ thuật như sau: "Nghệ thuật là một cuộc sống riêng biệt, rất hiếm gặp. Tôi đã vẽ trong mọi hoàn cảnh, tại mọi nơi. Tôi không biết vẽ để làm gì. Đôi khi tôi gần như tuyệt vọng, đôi khi tôi cảm thấy mình được cứu rỗi. Và tôi tiếp tục vẽ, tiếp tục suy ngẫm... Xin đừng yêu cầu tôi giải thích về các bức tranh của mình. Chúng xuất hiện trong tâm trí tôi và tôi đã thở dài, mệt mỏi. Thế giới xa lạ được tạo ra từ một ký ức hoặc một cảnh quan tạm thời, và rồi dần lan tràn trên các khoảng trống đen tối... Xin hãy cảm nhận, nhưng đừng bao giờ cố gắng tìm hiểu quá sâu." Ông đã sáng tác tranh trong nhiều tình huống và nơi chốn khác nhau. Tuy nhiên, đôi khi ông cảm thấy mệt mỏi và không biết cách giải nghĩa cho các tác phẩm của mình. Ông tin rằng nghệ thuật là một phần cuộc sống riêng tư và có thể được cảm nhận một cách khác nhau bởi mỗi người. Có một số tranh tôn giáo của ông, và tôi nghĩ rằng đó là một phần quan trọng trong các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc chọn lựa các tác phẩm để giới thiệu cũng phụ thuộc vào cảm nhận và đánh giá của từng người, và không nên cố gắng giải thích quá nhiều về các tác phẩm này. Mỗi người có một quan điểm riêng về tôn giáo và nghệ thuật, và điều đó cần được tôn trọng.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét