LÊ PHỔ

Lê Phổ, một họa sĩ vĩ đại của Việt Nam và thế giới, thuộc trường phái lãng mạn và sở hữu nhiều tác phẩm có giá trị cao. Ông còn được biết đến như là "Danh họa Việt Nam trên đất Pháp" và "cây đại thụ" trong làng nghệ thuật vẽ tranh Việt Nam. Lê Phổ cùng với Phổ, Thứ, Lựu và Đàm được xem là nhóm tứ kiệt trời Âu của nền hội họa Việt Nam. Từ năm 1937, ông định cư tại Pháp và không bao giờ trở về quê hương cho đến khi qua đời tại Paris vào năm 2001. Lê Phổ sinh ra tại thôn Cự Lộc, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội). Cha của ông là quan đại thần Lê Hoan, được ghi nhận trong sử sách vì công lao giúp chính quyền thực dân Pháp đàn áp nghĩa quân Đề Thám. Tuổi thơ của họa sĩ Lê Phổ không hạnh phúc, bởi ông mất mẹ khi chỉ mới 3 tuổi và cha lúc ông 8 tuổi. Sau đó, ông sống với anh trai và chị dâu, phải đảm nhận trách nhiệm của những đứa cháu và chịu áp lực của việc phải gánh vác trách nhiệm này.

Vào năm 1937, ông di cư sang Pháp và định cư tại đó. Tại Pháp, ông kết hôn với bà Paulette Vaux - một phóng viên của báo Life & Time ở Paris vào năm 1947. Theo bà Vaux, vợ của họa sĩ, ông không bao giờ kể với con cái về tuổi thơ của mình và sống trong nội tâm. Ông cũng không nhớ nhiều về cha của mình ngoại trừ việc biết rằng cha ông là một người nghiện thuốc phiện. Do sinh ra trong một gia đình thế tộc, họa sĩ Lê Phổ có một tính cách nhạy cảm và tinh tế, thường có xu hướng sống nội tâm. Ông cao, gầy, mắt luôn nhìn xa vắng, ít nói, giọng nói thanh tao và thường mặc những bộ quần áo ủi phẳng phiu.

Năm 1925, ông trúng tuyển vào khóa học đầu tiên của Trường Đại học Mỹ thuật Đông Dương, trở thành một trong số 10 sinh viên Việt Nam được giáo sư Victor Tardieu xếp vào nhóm sinh viên "tinh hoa". Trong vòng 5 năm học, ông hướng tới trường phái nghệ thuật Á Đông dưới sự ảnh hưởng của giáo sư Victor Tardieu - một họa sĩ rất am hiểu các trường phái nghệ thuật châu Âu. Họa sĩ Lê Phổ đã bị tác động sâu sắc bởi trường phái nghệ thuật này từ khi còn là một chàng trai trẻ 18 tuổi ở Hà Nội. Theo bà Vaux, vợ của ông: "Ông xem giáo sư Tardieu giống như cha tinh thần. Ông rất ngưỡng mộ và gần gũi với Tardieu. Tardieu đã đặt nền móng cho thành công trong hội họa của ông".

Năm 1928, ông đã tổ chức triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội cùng với các họa sĩ Vũ Cao Đàm và Mai Trung Thứ.[2]

Sau khi trang trí một số triển lãm ở Paris vào năm 1931, họa sĩ Lê Phổ được cấp học bổng sang Trường Mỹ thuật Paris năm tiếp theo. Tại đây, ông có cơ hội tiếp xúc với nhiều trường phái nghệ thuật, trong đó trường phái Ấn tượng đã ảnh hưởng đến các tác phẩm nghệ thuật sau này của ông.

Năm 1933, sau khi trở về Hà Nội, ông đã tham gia giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Vào năm 1935, ông đã tới các cung điện đền đài Bắc Kinh để nghiên cứu về nền nghệ thuật cổ điển Trung Hoa. Vào cuối năm đó, ông đã được mời vào Huế để vẽ chân dung ông hoàng Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương, cũng như vẽ tranh trang trí ở cung đình Huế.

Sau khi lại sang Paris năm 1937 để phụ trách gian hàng Đông Dương tại triển lãm quốc tế, ông đã quyết định định cư tại Pháp. Năm 1938, ông đã tổ chức triển lãm phòng tranh cá nhân đầu tiên, trong đó có các tác phẩm về người đẹp Việt Nam, thiếu nữ đọc thư tình trong vườn và cô gái đang phơi áo. Các tác phẩm này đã được công chúng phương Tây đón nhận nồng nhiệt.

Năm 1941, ông đã tổ chức cuộc triển lãm tranh tại Alger cùng với người bạn học rất thân là họa sĩ Mai Trung Thứ, với nhiều tác phẩm được bán thành công.

Năm 1963, ông hợp tác với phòng tranh Wally Finday ở Mỹ để tổ chức vài buổi triển lãm tranh, đồng thời giới thiệu và công bố các tác phẩm của mình ra khắp thế giới.

Họa sĩ Lê Phổ đã chuyển sang sử dụng chất liệu vẽ sơn dầu vì ông cho rằng chất liệu tranh lụa có những nhược điểm về khuôn khổ và chất liệu màu sắc không thể bộc lộ đầy đủ ý nghĩa mà tác giả muốn thể hiện. Ngoài việc thay đổi chất liệu vẽ, ông còn mở rộng và phóng khoáng nội dung của tranh, như có thể thấy rõ trong việc người phụ nữ trong tranh của ông đã vượt ra ngoài lễ giáo ngàn năm để thể hiện một màu sắc "thế tục".

Trong cuốn sách viết về Lê Phổ năm 1970, nhà phê bình nghệ thuật Pháp Waldemar George đã gọi ông là "Họa sĩ siêu phàm" (Divine Painter). Theo Waldemar, phong cách hội họa của Lê Phổ được chia thành hai giai đoạn và cả hai giai đoạn đều kết hợp trường phái Đông Tây từ kinh nghiệm thực tế và kiến thức học được của họa sĩ.

Trong giai đoạn đầu tiên (1934-1945), Lê Phổ sử dụng chất liệu tranh lụa để tạo ra các tác phẩm mang phong cách cổ điển Trung Quốc và ảnh hưởng sâu sắc từ nó. Ông sử dụng các gam màu sắc đậm, lạnh và nguyên chất để tô vẽ. Một số bức tranh nổi tiếng như "Thiếu phụ ngồi", "Chim ngói" mang phong cách của đời Tống được kết hợp với đường nét uyển chuyển và mềm mại. Với không gian phẳng lặng và nét bút tinh vi, mong manh mà lạnh lùng, các tác phẩm tạo ra không khí thuần khiết và ẩn chứa dung sắc xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Khi hội nhập hai phong cách hội họa Trung Quốc và Ý, Lê Phổ bắt đầu tạo ra các tác phẩm mới như "Mẹ con", "Thiếu nữ và hoa lan", "Hai chị em", "Thiếu nữ và hoa hồng", "Chải đầu"... với sự biến đổi nhẹ. Những tác phẩm này mô tả phụ nữ trong tranh với nét bút thanh tao, trang nghiêm, dáng dấp thiên thần theo phong cách châu Âu nhưng đầy buồn và huyền bí, khó hiểu đối với người xem. Vào những năm 1940, Lê Phổ bắt đầu hoà trộn tất cả các chuẩn mực của trường phái cổ điển để chuyển sang trường phái ấn tượng.

Giai đoạn thứ hai (từ những năm 1950) của Lê Phổ được xem là thời kỳ lãng mạn của hội họa sơn dầu trên toàn cầu. Theo nhà phê bình Waldemar, phong cách của Lê Phổ có sự kết hợp tuyệt vời giữa tinh thần Trung Hoa và trường phái ấn tượng. Họa sĩ thể hiện nét vẽ tự tin, pha trộn độc đáo giữa tinh hoa nghệ thuật hội họa phương Đông và phương Tây. Trong cuốn sách của mình, Waldemar đã viết rằng: "Những con đường của châu Á và châu Âu giao thoa, nghệ thuật phương Đông và phương Tây mở ra một cuộc đối thoại thân tình".

Họa sĩ Lê Phổ thường xuyên thể hiện hình ảnh phụ nữ trong nhiều tác phẩm của mình. Trong cuốn sách "Những tác phẩm hội họa Việt Nam" của ông Corinne de Menonville, ông đã nhận xét rằng hình ảnh người phụ nữ trong tranh của Lê Phổ ở giai đoạn đầu thường được vẽ mỏng manh, e ấp với khuôn mặt trái xoan, tạo hiệu ứng cho hồn tranh. Chúng toát lên sự trang nhã, nhẹ nhàng, duyên dáng và lịch thiệp. Với tranh lụa, màu sắc được sử dụng nguyên chất và đậm sắc thái, tạo nên khung cảnh lãng mạn. Ở giai đoạn tiếp theo, hình ảnh phụ nữ vẫn được đặt làm tâm điểm trong tranh sơn dầu, nhưng có thêm cảm giác về tự do qua cử chỉ và màu sắc. Trong khi đó, với tranh lụa, người vẽ phải mất nhiều thời gian và cần sự tinh tế và tỉ mỉ, trong khi đó với tranh sơn dầu, nghệ sĩ được phép sáng tạo hơn với nhiều cử động và mức độ của màu sắc. Tác phẩm của Lê Phổ ở thời điểm này ảnh hưởng bởi trường phái ấn tượng, thể hiện sự tự do, tính hoa mỹ, hân hoan trong ánh sáng và nhịp nhàng trong nét cọ.

Trong khi đó, nhà phê bình Waldemar có nhận xét khác về thế giới trong tranh của Lê Phổ. Theo ông, đó là "một con thuyền lướt giữa những bông súng, những cô gái ẩn hiện hái trái cây trong vườn địa đàng, họ thật kiểu cách và được nhớ đến bởi sự duyên dáng, niềm vui của cuộc sống phát ra từ tất cả, trong tiết trời xuân vô tận, những thiếu nữ mảnh mai đang dùng bữa trưa trên một hiên nhà, những đĩa trái cây trên bàn phủ khăn, bình đựng đầy hoa dại: thế giới của Lê Phổ là một thiên đường trên trái đất".

Lê Phổ là một trong số ít các họa sĩ Việt Nam để lại một số tác phẩm nghệ thuật và kinh tế có giá trị. Một số tác phẩm nổi bật của ông bao gồm:
Thiếu phụ trong vườn, được bán tại triển lãm Leslie Hindman với giá 30.000 - 50.000 USD vào năm 2007.
Cho chim ăn, đã được bán với giá kỷ lục gần 100.000 USD vào năm 1997.
Mẹ và các con, có giá khoảng từ 102.000 - 128.000 USD.
Thiếu phụ, được đánh giá là tác phẩm đắt nhất ở Nhà triển lãm Đinh Tiên Hoàng.
Kim Vân Kiều, được vẽ vào giai đoạn 1932 - 1935 với các chất liệu như: ngà voi châu Á, hổ phách, ngọc bích và vàng mười. Bức tranh miêu tả khung cảnh nên thơ thuộc tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.
Hoài cố hương, bán với giá từ 181.820 - 303.030 USD vào năm 2006.
À l’approche du Têt, được định giá từ 76.900 đến 102.600 USD tại cuộc đấu giá Christie’s ở Hong Kong vào năm 2005.
Le Rideau Mauve, được bán với giá 373.520 USD tại cuộc đấu giá của nhà Aguttes ở Hong Kong vào năm 2012.
Nhìn từ đỉnh đồi, được bán với giá 840.000 đô la tại Christie's International vào năm 2014.
Piéta, đã được bán với giá 156.000 EUR tại phiên đấu giá của nhà Aguttes vào năm 2018.
Khỏa thân, được bán với giá 1,4 triệu USD tại phiên đấu giá Christie's Hong Kong vào năm 2019.

Trong suốt cuộc đời của mình, dù đã định cư tại Pháp từ năm 1937 và không trở về quê hương kể từ đó, họa sĩ Lê Phổ luôn giữ trong lòng những tình cảm sâu đậm với quê hương và đất nước. Trong các tác phẩm hội họa của ông, ta có thể thấy được những đặc trưng riêng của Việt Nam và Á Đông qua những hình ảnh phụ nữ tương tác với thiên nhiên một cách tinh tế và trẻ trung. Ngoài ra, hoa cũng là một chủ đề thường xuất hiện trong các bức tranh của ông, và đó cũng chính là cách ông biểu hiện tình cảm của mình đối với quê hương. Theo nhận xét của nhà phê bình Waldemar, Lê Phổ đã sử dụng hàng ngàn bông hoa để thể hiện nỗi nhớ quê hương. Vợ của ông, bà Vaux, cũng tiết lộ rằng ông yêu hoa và luôn cho chúng xuất hiện trong các bức tranh của ông, dù là trong giai đoạn tranh lụa hay tranh sơn dầu.

Vào tháng 9 năm 1993, khi ông đã già, Lê Phổ tỏ ra rất biết ơn và quyết định tặng một "món quà" cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ông chia sẻ: "Dù tôi đã sống ở Pháp suốt 60 năm và có quốc tịch Pháp, nhưng tôi không bao giờ quên đến quê hương. Vì thế, tôi đã lựa chọn cẩn thận 20 bức tranh để tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam".



Đăng nhận xét

0 Nhận xét