TẢ THANH OAI

Ông sinh năm 1934 tại xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Từ nhỏ, ông đã đam mê mỹ thuật. Năm 1950, ông tham gia khoá học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam tại chiến khu Việt Bắc dưới sự hướng dẫn của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Sau khi tốt nghiệp, ông gia nhập quân đội và tham gia các chiến dịch kháng chiến, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ và làm nhiều ký họa.

Sau khi hoà bình được thiết lập, năm 1956, ông được cử đi học khoa Đạo diễn hoạt hình tại Đại học Quốc gia Điện ảnh Liên Xô. Ông tốt nghiệp năm 1962 và trở về Việt Nam để làm việc tại Xưởng phim Hoạt họa búp bê Việt Nam, hiện nay là Hãng phim hoạt hình Việt Nam. Năm 1963, ông sản xuất bộ phim hoạt hình đầu tiên của mình mang tên Một ước mơ. Những bộ phim sau đó của ông đã ghi dấu ấn mạnh mẽ trong lòng công chúng và đạt được nhiều giải thưởng như Dế Mèn phiêu lưu ký, Chuyện ông Gióng, Trê cóc, Con sáo biết nói, Những chiếc áo ấm, Thạch Sanh, Rừng hoa, Bộ đồ nghề nổi giận, Bước ngoặt, Phép lạ hồi sinh,... Với những tác phẩm này, ông đã giành được 3 giải Bông sen vàng, 4 giải Bông sen bạc, nhiều bằng khen từ Ban giám khảo tại các kỳ Liên hoan phim Việt Nam và một số giải thưởng quốc tế như Bồ nông Bạc tại Liên hoan phim Hoạt hình quốc tế ở Mamaia (România) năm 1966 cho phim Mèo Con, Bồ câu Vàng tại Liên hoan phim quốc tế Leipzig, Cộng hòa Dân chủ Đức (1970) cho phim Chuyện ông Gióng. Với tổng cộng 17 bộ phim hoạt hình đã thực hiện, ông là một trong những nghệ sĩ hàng
đầu trong ngành điện ảnh hoạt hình Việt Nam.

Ngoài công tác đạo diễn, Ngô Mạnh Lân còn là một họa sĩ, là thành viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1982. Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm bao gồm ký hoạ, tranh sơn dầu, hoạt hình, tranh cổ động, bìa tem, bìa sách và truyện tranh. Ông đã tổ chức hai triển lãm nghệ thuật, một vào năm 1971 và một vào tháng 11 năm 2006. Ông cũng đã viết và xuất bản một số cuốn sách về nghệ thuật hoạt hình. Trong tháng 3 năm 2007, Nhà xuất bản Mỹ thuật đã phát hành cuốn sách về Ngô Mạnh Lân với tên gọi "Ngô Mạnh Lân - chặng đường mỹ thuật 50 năm". Ông đã được trao tới 6 giải thưởng về mỹ thuật, trong đó bao gồm 1 giải A triển lãm đồ họa từ Hội nghệ sĩ tạo hình, 1 giải quốc gia về minh họa sách thiếu nhi từ Bộ GDĐT và UNICEF, 2 giải nhất và 2 giải nhì về triển lãm áp phích từ Bộ VHTT.

Ông đã tốt nghiệp với tư cách Phó tiến sĩ Nghệ thuật vào năm 1984 tại Liên Xô. Sau đó, ông được trao tặng danh hiệu Phó giáo sư vào năm 1991 và danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân vào năm 1997. Vào năm 2007, ông đã nhận được Giải thưởng Nhà nước cho các tác phẩm của mình, bao gồm "Mèo con", "Chuyện ông Gióng", "Con sáo biết nói", "Những chiếc áo ấm" và "Trê cóc".

Ngô Mạnh Lân là một trong số các nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam có tên trong Bách khoa toàn thư điện ảnh Liên Xô và đã được tôn vinh trong lễ kỉ niệm 55 năm thành lập ngành Điện ảnh Cách mạng Việt Nam vào năm 2008 cùng với 10 nghệ sĩ điện ảnh khác. Ông là bạn đời của nữ diễn viên, NSƯT Ngọc Lan và có bốn người con gồm Ngô Phương Lan, Ngô Phương Ly, Ngô Lê và Ngô Lâm. Người con gái lớn của ông, Ngô Phương Lan,
Ông đã khởi nghiệp với những trang sáng sủa, tràn đầy nhiệt huyết và thuyết phục. Các bức sơn dầu mà ông vẽ khi theo học ở Liên Xô hứa hẹn rất nhiều cho một cây bút tạo hình mạnh mẽ, ví dụ như Bên bìa rừng (1957), Cảnh làng Tarutxa (1957), Nắng cuối hè (1959), Nhà thờ Sain Isaac (1959), Bà lão nông dân trong trang phục truyền thống Nga (1960)… đều rất ấn tượng. Tuy nhiên, sau 47 năm, khi ông vẽ bức Chiến sĩ Điện Biên (2000), mặc dù vẫn vững vàng, nhưng cảm xúc trong bức tranh đã bị trôi dạt do ông quá cẩn trọng khi thể hiện. Điều này là do năm tháng đã nhào nặn người nghệ sĩ với sức đè của những bước sóng siêu mạnh không nhìn thấy, đủ để biến dạng cả những cái định hình cả một thời tôi luyện. Do đó, giả định rằng nếu ông tiếp tục với sơn với toan khi về nước, hôm nay sẽ có một Ngô Mạnh Lân khác, thì đó chỉ là những suy nghĩ lãng mạn và mãi mãi chỉ là lãng mạn. Các phim của ông như Dế mèn, Tết của mèo con, Thánh Gióng, Trê cóc... đã chứng minh kết quả của những năm tháng ông được đào tạo. Đó là những phim thấm đẫm tinh thần phương Đông, đẹp cả về tạo hình và màu sắc, có thể xếp vào hàng kinh điển của thể loại phim hoạt hình của Việt Nam.

Nếu các tác phẩm ký họa đã khắc họa được cảm xúc trực diện, tươi nguyên, sống động cuộc sống một thời chiến tranh, một thời hòa bình, thực sự thức dậy những kỷ niệm sâu sắc và đẹp đẽ, thì các tác phẩm sơn dầu, từ các nghiên cứu hình họa cho đến các tranh phong cảnh, sinh hoạt, chiến đấu nhuốm màu thời gian với nhiều

Dưới đây là danh sách các tác phẩm của ông gồm 17 bộ phim hoạt hình như sau: "Một ước mơ" (1963), "Mèo Con" (1965), "Con sáo biết nói" (1967), "Những chiếc áo ấm" (1968), "Chuyện ông Gióng" (1970), "Rồng lửa Thăng Long" (1970), "Rừng hoa" (1974), "Thạch Sanh" (1976), "Bước ngoặt" (1982), "Trê Cóc" (1993), "Phép lạ hồi sinh" (1994).

Ngoài ra, ông còn sáng tác tranh, ký hoạ, truyện tranh và minh họa nhiều bìa sách. Ông cũng có nghiên cứu về phim hoạt họa Việt Nam trong cuốn "Phim hoạt họa Việt Nam" (1977) và viết về sự phát triển của nghệ thuật hoạt hình trong cuốn "Hoạt hình nghệ thuật thứ tám" (1999). Ngoài ra, ông còn là tác giả của 2 bộ tem mang tên "Kỷ niệm những ngày lịch sử của đất nước" và "Quan Âm Thị Kính" [8].

Ông cũng đã tham gia vào việc chuẩn bị đánh đồn A1, chống lụt ở Nam Định và là thành viên của Mặt trận Điện Biên Phủ. Ngoài ra, ông cũng sáng tác các truyện như "Dế mèn phiêu lưu ký" và "Truyện trê cóc" của Tô Hoài, "Tú Uyên", "Cây tre trăm đốt" của Thảo Hương.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét