CÔNG VĂN TRUNG

Công Văn Trung sinh ngày 16-9-1907 tại xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là phường Phú Thượng, quận Tây Hồ) trong một gia đình trung lưu. Ông là sinh viên khoá I của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và có nhiều tác phẩm vẽ bằng gam màu nâu, vẽ về những hình ảnh dân dã và đặc trưng của quê hương Việt Nam như: Tháp chùa Bảo Minh, Mỏ Tỉnh Túc, Tham quan di tích lịch sử, Bình minh đất nước, Hoa đại đỏ chùa Thầy. Tác phẩm sơn khắc "Phong cảnh Sài Sơn" của ông đã nhận được huy chương vàng tại triển lãm toàn quốc vào năm 1990.

Năm 1925, Công Văn Trung đã tham gia cuộc thi đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Thay vì nộp hồ sơ tại Hà Nội, ông đã gửi hồ sơ sang Paris. Đến gần ngày thi cuối cùng, hồ sơ của ông mới quay trở lại Hà Nội, đến tay ban giám khảo. Hoạ sĩ Nam Sơn, chủ khảo cuộc thi, đã cho ông thi vào ngày cuối cùng và coi thi các môn còn lại một mình. Công Văn Trung đỗ thứ năm trong số mười thí sinh trúng tuyển, trong hơn 500 thí sinh tham gia cuộc thi. Ông đã nhớ ơn hoạ sĩ Nam Sơn, và năm 2003, ông đã phát biểu: “Không có thầy Nam Sơn thì không có Công Văn Trung ngày nay”.

Trong số 10 người trúng tuyển, có 2 người học kiến trúc và 8 người học hội họa. Sau 5 năm học, 2 người học kiến trúc đã bỏ học. Công Văn Trung tốt nghiệp hạng năm trong số 6 sinh viên, xếp hạng này là khi ông thi vào trường. Sau này, cả 6 sinh viên đều trở thành những tên tuổi nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình ở Việt Nam.
Công Văn Trung (người đứng thứ 2 từ phải qua trái)

Khi còn là sinh viên năm thứ ba, Công Văn Trung được Học viện Viễn Đông Bác Cổ đưa sang Trường Mỹ thuật Đông Dương để làm việc đo đạc khảo cổ. Ông là một trong những nghệ sĩ vẽ viễn cận giỏi nhất ở trường. Kể từ khi Hội Mỹ thuật Việt Nam được thành lập vào năm 1957, ông đã trở thành một trong những hội viên đầu tiên của hội.

Công Văn Trung đã sau khi tốt nghiệp, đã giảng dạy tại trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội trong một khoảng thời gian dài từ năm 1957. Sau đó, ông chuyển sang giảng dạy tại trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội và nghỉ hưu tại đó. Nhiều học trò của ông đã trở thành những hoạ sĩ danh tiếng như Đường Ngọc Cảnh, Kim Bạch, Lê Thiệp, Vũ Giáng Hương, Trần Khánh Chương và nhiều người khác.

Với những đóng góp quý báu cho đất nước bằng những tác phẩm nghệ thuật, Công Văn Trung đã được trao Huân chương Lao động hạng nhì của Nhà nước cùng với hai danh họa khác của trường Mỹ thuật Đông Dương, Lương Xuân Nhị và Phạm Gia Giang.

Mặc dù Công Văn Trung không vẽ nhiều, nhưng tình cảm dân tộc hơi hoài cổ và sự kiên định của ông đối với các mô-típ, đề tài và chất liệu Á Đông lại tạo ra một phong cách nghệ thuật khá độc đáo. Thực tế, ông chủ yếu chỉ vẽ tranh lụa và tranh sơn khắc.

Công Văn Trung đã có nhiều năm làm công tác vẽ ghi, vẽ nghiên cứu cho Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp. Ông vừa có cái nhìn cẩn trọng của một họa sĩ bác học, vừa có cái nhìn trực giác tinh lược của người xưa, đi sâu vào từng chi tiết nhưng bao giờ cũng quán triệt tất cả chúng bằng một tinh thần của đại thể.

Bức tranh “Cổ đồ và cành lựu” ở đây rất tiêu biểu cho phong cách của Công Văn Trung. Nó có thể là sự chuẩn bị cho một bức tranh lụa, hoặc đơn giản chỉ là một bức vẽ độc lập lưu giữ lại một tâm trạng, một ý niệm của người họa sĩ trước một vẻ đẹp bất chợt tìm được trong thường nhật cuộc sống.

Năm 1990, ở tuổi 83, tại kỳ Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm đó, Công Văn Trung đã giành được giải nhất với bức tranh sơn khắc “Cảnh Sài Sơn”. Và bức tranh giới thiệu ở đây cũng chính là một trong những tranh sơn khắc có cùng đề tài ấy của ông.

Bằng một tâm hồn hoài cổ, và bằng một sự hiểu biết thấu đáo và sâu sắc về văn hóa dân tộc và về vốn cổ dân tộc (bản thân Công Văn Trung đã từng có nhiều năm làm công tác nghiên cứu và vẽ ghi tại Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp), những phong cảnh nhân văn gắn liền với các công trình kiến trúc cổ – luôn luôn là những nơi chốn để Công Văn Trung tìm về. Và qua các bức tranh sơn khắc của ông, cái Tinh thần của Nơi chốn (Genius Loci) quê hương Việt Nam luôn được làm dậy lên trong những sắc thái khá riêng biệt, dường như chỉ mình ông mới có: Một thứ không gian vừa hiện thực vừa gián cách, vừa cụ thể mà cũng vừa mơ hồ, bức tranh hiện ra như một tấm màn đăng-ten, rung rinh, ẩn hiện như một giấc mơ giữa ban ngày.

Nếu như người Trung Hoa thường tỉ mỉ, thậm chí là vô cùng “rườm rà”, rườm rà một cách tinh xảo, khi thể hiện mặt trước của các tấm bình phong sơn khắc, thì ngược lại, họ thường sử dụng những nét gần như “ký hiệu” hết sức tinh lược ở mặt sau, như là những “phụ chú” cho mặt trước. Xem tranh sơn khắc của Công Văn Trung, ta như đồng thời được gặp cả hai cái đó, một lối ngôn ngữ dung hợp giữa lý trí và tình cảm, giữa nội giới và ngoại giới, giữa hoài niệm và biểu tượng – ngôn ngữ của một họa sĩ hiện đại Á Đông với một vẻ cổ kính rất riêng của Việt Nam.

Tác phẩm tiêu biểu:

Phong cảnh Sài Sơn(1992)


Cổ đồ và cành lựu(1965)


Hoa đại đỏ Chùa Thầy

Đăng nhận xét

0 Nhận xét