Vào năm 1958, Lưu Yên tham gia vào công tác thực tế tại Quảng Ninh cùng với Hoàng Công Luận, làm công nhân mỏ và tham gia cũng như đóng góp cho công tác văn hóa. Trong khoảng thời gian đó, ông tham gia triển lãm "Khu mỏ xưa và nay", vẽ tranh tường "Xưa và nay – Hai chế độ" tại Cẩm Phả. Ngoài ra, ông cũng thiết kế và trình bày cho Bảo tàng Quảng Ninh, đồng thời có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng phong trào mỹ thuật Quảng Ninh bằng cách giảng dạy các lớp hội họa cho thế hệ trẻ tại đây, đó là những lớp họa sĩ công nhân mỏ đầu tiên. Năm 1961, ông trở về Hà Nội, làm Biên tập viên tại Nhà Xuất bản Phổ thông, thuộc Tổng cục Thông tin. Sau đó, ông chuyển sang công tác tại Nhà xuất bản Văn hóa, thuộc Bộ Văn hóa – Thông tin. Cuối cùng, vào năm 1985, ông chuyển sang làm Biên tập viên cho Tạp chí Mỹ thuật Việt Nam trước khi nghỉ hưu vào năm 1990.
Ngoài công tác biên tập tại tạp chí, ông Lưu Yên còn được biết đến là một tác giả với các bài nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam và thế giới, phê bình nghệ thuật và thường được mời minh họa cho sách, báo và tạp chí. Ông cũng hợp tác biên tập về mỹ thuật cho các nhà xuất bản như Nhà xuất bản Kim Đồng, Tạp chí Quân đội, Từ điển bách khoa Việt Nam, Công ty Tem Việt Nam, Nhà Xuất bản giáo dục, Tạp chí Mỹ thuật, Nhà Xuất bản văn hóa, Nhà Xuất bản phổ thông...
Năm 1970, Lưu Yên trở thành hội viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Ông luôn tìm tòi và thực nghiệm với nhiều khuynh hướng khác nhau trong lĩnh vực hội hoạ, nhưng chủ yếu tập trung vào hiện thực và thể hiện chân dung và hình tượng con người. Ông thường sử dụng các kỹ thuật vẽ trên khuôn khổ nhỏ hoặc trung bình bao gồm sơn mài, khắc gỗ, Acrylic, sơn dầu và phấn màu. Thỉnh thoảng, ông nghiên cứu phương pháp "cụ thể, khách quan" để tạo ra những "dấu hiệu" với những nét bản chất, hầu như là "chủ quan - trừu tượng". Nhiều tác phẩm của ông đã đạt giải thưởng cao tại Việt Nam, được sáng tác tại nhiều nơi khác nhau bao gồm Huế, Quảng Ninh... Một số tác phẩm tiêu biểu của ông được sáng tác trước năm 1975, gồm Công nhân mỏ Cẩm Phả (1960) - sơn mài, Trầm tư (1967) - kỹ thuật hỗn hợp, Hà Nội những năm 1960 (1960), Ấn tượng chiến tranh (1969) - sơn dầu... Ngoài hội hoạ, ông còn là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam và thế giới, phê bình nghệ thuật và cũng thường minh họa cho sách, báo và tạp chí.
Lưu Yên đã qua đời vào ngày 12 tháng 11 năm 2013 tại nhà riêng tại phố Nguyễn An Ninh, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Việt Nam. Ông đã được an táng tại Nghĩa trang Văn Điển sau đó.
Mặc dù nhiều người cho rằng Lưu Yên không vẽ nhiều tranh, thực tế là thế hệ ông đã trải qua thời kỳ chiến tranh và nghèo khó. Những nguyên liệu cần thiết để vẽ tranh như màu sắc và giấy vẽ rất hiếm hoi và khó có được. Họa sĩ Lưu Yên thậm chí phải sử dụng các vật dụng như tem gạo, tem phiếu mua hàng để tiết kiệm chi phí. Cơm ăn còn phải độn với hạt bo bo để giảm chi phí sinh hoạt, điều này khiến cho việc tìm nguồn vật liệu để vẽ tranh trở nên vô cùng khó khăn.
Họa sĩ Lưu Yên khi đó làm ở Nhà Xuất bản Văn hóa, bù đầu với tranh truyện và minh họa sách nên thời gian dành cho vẽ tranh cũng hạn hẹp. Hơn nữa cũng rất ít mầu để vẽ! Có bức sơn dầu ông vẽ trên bìa cắt tông. Những bức mầu nước vẽ trên sổ tay…Những khi cóp được tiền mua sơn, ông cũng để lại những tác phẩm chững chạc. Điển hình là bức "Chiếc áo thổ cẩm". Có lẽ đây là kiệt tác của ông.
Tuy ít vẽ nhưng tranh, nhưng ông đã thử trải nghiệm qua hầu hết các chất liệu: Sơn dầu, sơn mài, lụa, mầu nước, mầu sáp, khắc gỗ…mảng đồ họa gồm tranh truyện, minh họa, bìa sách. Ngoài ra ông viết sách, tham gia từ điển Bách Khoa (phần Mỹ thuật) và nhiều bài lí luận phê bình khác…Ông quả là một tài năng đa diện.
Tác phẩm tiêu biểu:
Chiếc Áo Thổ cẩm (2001)
Em bé người tày (1999)
Em bé H'Mong (1992)
Thiếu nữ miền núi (1990)
Đêm nay bác không ngủ (1985)
Du kích già Bắc Sơn (1983)
Vá buồm vá lưới (1980)
Tự vệ công nhân (1975)
Anh lái xe (1960)
Em bé đi học (1956 – bột màu)

0 Nhận xét