Nguyễn Phước sinh năm 1943 tại Sài Gòn.
Năm 1956, mới 13 tuổi, ông vào học trường Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định.
Năm 1960, tốt nghiệp trường Trang Trí, ông vào học tiếp Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn cho đến lúc ra trường năm 1965.
Đang học ở trường mỹ thuật, ông đã tổ chức được một cuộc triển lãm ở Phòng Thông Tin Đô Thành năm 1963; và sau đó là các cuộc triển lãm liên tục vào các năm 1965, 1966, 67, 70 tại cơ sở Pháp Văn Đồng Minh Hội trên đường Gia Long. Ông cũng tham dự vô số các cuộc triển lãm chung với các tác giả khác như Triển Lãm Mùa Xuân 1960, 61, 63, Triển Lãm Mùa Thu 1962, Triển Lãm Mỹ Thuật Quốc Tế ở viên đình Tao Đàn 1962, tham dự triển lãm thường niên của Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam 1966, 67, 73, 74; tranh treo thường xuyên tại ga-lơ-ri La Dolce Vita. Trước 1975, đã được Phủ Văn Hóa chọn để tham dự Triển Lãm Mỹ Thuật Quốc Tế Tunis, 1969, Triển Lãm Mỹ Thuật lưỡng niên tại Paris lần thứ 4 năm 1965, Triển Lãm Mỹ Thuật tam niên lần thứ I, Ấn Độ, năm 1968. Sau 1975, tham dự Triển Lãm Mỹ Thuật quốc tế Bảo Tàng Quốc Gia Singapore năm 1992, và cũng vào năm 92 đã tham dự chương trình Văn Hiến Á Châu, phòng tranh Notices, cũng ở Singapore. Cũng nên biết thêm: Trong cuộc Triển Lãm Mùa Thu năm 62 do Văn Hóa Vụ tổ chức, ông đã được tặng thưởng huy chương đồng cho bức Con Bò vẽ bằng bột màu, và trong kỳ Triển Lãm Mùa Xuân năm 1963, được tặng thưởng huy chương bạc cho bức sơn dầu Quán Tím, một huy chương đồng cho bức Nhà Sàn (sơn dầu).
Vào thời kỳ còn rất trẻ của những năm 1965, 66, 67,Nguyễn Phước cũng rớt vào cái tham lam, ôm đồm như bao nhiêu nghệ sĩ trẻ khác mới bước vào đời nghệ thuật, ông muốn chuyên chở hết cái ý thức của ông về cuộc đời, về con người và thế giới vào trong tranh. Mà lúc ấy, trào lưu tư tưởng hiện sinh cũng đang vây bủa thanh niên trí thức miền Nam, chúng ta có thể tìm thấy nhiều dấu vết ấy trong tranh Nguyễn Phước. Nó bày ra cho người xem cái ý thức về sự cô đơn, với hình ảnh con người méo mó trong hiện tại, về một thiên nhiên hoang vu bên ngoài. Thời kỳ này, tranh Nguyễn Phước hầu hết là vô hình dung, với nhiều màu vàng nâu, khác với màu xanh xám của Thái Tuấn hay xanh đen của Nguyễn Trung. Bức Âm Thanh Sa Mạc trong phòng triển lãm tháng 10-1966, toàn là một màu vàng, vàng nâu đậm, vàng xanh đen, gợn lên những đường vạch chi chít, như muốn đưa chúng ta vào một miền đất mênh mông, hoang mạc, buồn thảm và vắng lặng.
Từ 1963 đến 1967, Nguyễn Phước đã đi qua ba chặng đường, từ biểu tượng, trừu tượng rồi chuyển đổi qua siêu thực. Bức Cô Dâu vẽ năm 1966 có thể xem là điển hình của bút pháp siêu thực còn pha màu sắc biểu tượng, từ cái thực của cuộc đời anh đã làm cho nó biến dạng đi, sâu tối hơn, bí ẩn và thơ mộng hơn.
Rồi năm 1970 ông lại đột nhiên trở lại với hội họa trừu tượng, những đường nét và các mảng màu được tinh lọc đến cùng, tế nhị, nhuần nhuyễn, mịn màng.
Khi tranh sơn mài là một nhu cầu của thị trường vào các năm 80, Nguyễn Phước cũng không tránh khỏi làm tranh sơn mài, và chính vào giai đoạn đó, Nguyễn Phước đã đưa vào trong nghệ thuật đương đại của chúng ta một phong cách mới của sơn mài, rất điêu luyện về kỹ thuật và rất hiện đại về bút pháp. Có thể đặt sơn mài của Nguyễn Phước bên cạnh sơn mài của Nguyễn Gia Trí để trưng bày hai phong cách sơn mài điển hình và tuyệt diệu nhất của nghệ thuật sơn mài Việt Nam.
Hội họa hiện nay của Nguyễn Phước chính là một tổng hợp những chặng đường trước kia ông đã trải qua. Ngôn ngữ biểu tượng, trừu tượng và siêu thực đều rất hữu ích trong cách bày tỏ hiện nay. Quả là hết sức khó để tìm ra một tên gọi cho chính xác, nhưng có thể khẳng định ngay rằng bút pháp hiện nay của Nguyễn Phước là một tiếng nói rất độc đáo và đầy tính sáng tạo. Không phải chỉ là trong phạm vi hội họa Vlệt Nam, mà cả trong tình hình của nghệ thuật thế giới, đặt Nguyễn Phước cạnh bất kỳ tác giả nào chúng ta vẫn nhận ra được bút pháp riêng biệt của ông. Nếu bút pháp là hình thái bên ngoài để chứa đựng thể tính bên trong, thì cả hai mặt phải tương ứng và hòa hợp với nhau mới có thể tạo nên một thứ nghệ thuật thực sự được.
Nguyễn Phước đã tìm ra được cái hài hòa vô cùng sâu sắc giữa những điều rất đơn giản, bình dị. Cái giản dị, cũng có thể nói là một trong những chuẩn mực thẩm mỹ của Nguyễn Phước. Chính trên cái nền tảng giản dị ấy, ông luôn luôn nỗ lực tìm ra một đường lối riêng biệt của mình. Luôn luôn tự do trên giá vẽ, tự do thực sự theo nghĩa là độc lập trong bút pháp, không bị ràng buộc với quá khứ cũng như với chung quanh. Một lời nói thêm để kết thúc bài viết, ở Sài Gòn hiện nay, chúng ta rất may là có hai nơi giữ gìn rất nhiều tranh quý của Nguyễn Phước, thứ nhất là Đại Chủng Viện Cường Để với những tác phẩm gợi hứng từ đề tài tôn giáo, và một nơi khác nữa là bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga, nhà sưu tập đã có con mắt rất tinh, nên đã giữ được biết bao nhiêu là tranh quý của Nguyễn Phước. Chính nhờ những nơi như vậy mà về sau này chúng ta sẽ còn nhiều tác phẩm quý, không để bị thất lạc hầu hết ở nước ngoài.
0 Nhận xét