Khoảng những năm 1947 đến 1950, các trận chiến lan tràn ở miền Nam, đời sống không ổn định khiến vùng đất Lái Thiêu không còn êm đềm như trước. Tâm lý hưởng thụ từ Sài Gòn - Chợ Lớn tràn đến nơi đây, nhiều người lao vào cuộc đỏ đen, ăn chơi. Ông Rô lúc đó đã có ba con nhỏ, thấy đời sống ở Lái Thiêu không phù hợp nên quyết định đưa cả nhà xuống Sài Gòn sống, vừa tìm hướng đi cho nghề nghiệp của mình.
Xuống Sài Gòn khoảng năm 1948 khi 27 tuổi, ban đầu ông mướn một căn gác gần một ngôi chùa Chà (đền của người Ấn) ở trung tâm thành phố. Gánh nặng gia đình quá lớn, ông lao ngay vào công việc vẽ tranh và nhiều việc khác để kiếm tiền mưu sinh. Ông làm việc cật lực đến độ chỉ sau đó hai năm, khi vợ ông sinh cô con gái thứ tư năm 1950, ông đã có thể đón vợ con từ nhà bảo sanh về ngôi nhà mới mua ở Gia Định dưới chân cầu Bông, là một căn nhà phố rộng rãi. Không chỉ như vậy, mấy năm sau ông có thể mua tiếp căn nhà kế bên để có chỗ làm tranh sơn mài.
![]() |
| Từ trái: nhạc sư Vĩnh Bảo, nhà nghiên cứu văn hóa và sưu tập đồ cổ Vương Hồng Sển và họa sĩ Nguyễn Văn Rô. |
Tuy nhiên, cuộc triển lãm năm 1955 tại phòng triển lãm Pháp văn Đồng minh hội mới thực sự tác động đến cuộc đời nghệ thuật của ông sau này. Tại cuộc triển lãm này, ông đoạt huy chương vàng với tác phẩm sơn mài đề tài tự do diễn tả một đàn ngựa và tác phẩm vẽ cái bóng một người cụt chân. Trong phần thưởng này có học bổng sang Nhật để nghiên cứu về sơn mài trong vòng một tháng. Sang đó, ông tìm hiểu về kỹ thuật sơn mài, ngoài ra còn tìm hiểu thêm về đồ gốm, vườn cảnh, nghệ thuật bonsai… ở đất nước có trình độ mỹ thuật cao và độc đáo này. Chuyến đi tuy ngắn ngủi nhưng tạo ấn tượng sâu đậm và sau này, ông đã có nhiều dịp thực hành những ứng dụng học được từ đó.
Năm 1962, ông được giải nhất với tác phẩm sơn mài đề tài “Tĩnh vật” trong cuộc triển lãm có tên “Đệ nhất Triển lãm Quốc tế Mỹ thuật” tại vườn Tao Đàn - Sài Gòn. Tuy được giải nhất, ông chỉ được nhận huy chương bạc do đây là cuộc triển lãm quốc tế nên huy chương vàng được trao cho một họa sĩ nước ngoài đồng hạng nhất.
Ngoài ra, ông đã tổ chức 3 triển lãm cá nhân và rất nhiều lần triển lãm chung trong và ngoài nước (ở Malaysia, Ấn Độ...) như triển lãm tại phòng triển lãm Đô thành (1961); triển lãm Hội họa mùa Xuân các năm 1959, 1960, 1961, 1962 tại phòng triển lãm Đô Thành; triển lãm Stanvac các năm 1960, 1961…
Sau chuyến đi tìm hiểu về sơn mài tại Nhật Bản năm 1955, ông được họa sĩ Lê Văn Đệ, giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn mời giảng dạy môn sơn mài từ năm đó. Ông được giao trọng trách biên soạn về lý thuyết giảng dạy và thực hành của khoa sơn mài tại trường và thuyết trình về kỹ thuật môn này tại hội Việt - Mỹ (Sài Gòn), dưới quyền bảo trợ danh dự của ông bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và đại sứ Mỹ tại Sài Gòn.
Ông Rô đã không giấu bí quyết với học trò, cho dù bí quyết đó chỉ mình ông học được từ bậc thầy sơn mài Việt Nam. Ông Trung kể khi ông vào học Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn năm 1956, tuy trước kia dù đã phụ làm tranh sơn mài giúp các thầy khi còn học ở trường Mỹ nghệ, ông hầu như chưa nắm vững. Lên Cao đẳng Mỹ thuật, học sơn mài với thầy Nguyễn Văn Rô, ông mới vỡ ra nhiều điều. Thầy Rô tuy là người tự học, không qua trường lớp nhưng giỏi kỹ thuật, nhiều kinh nghiệm thực tế. Lúc đó, trường không có vật liệu gì để giảng dạy mà chủ yếu dựa vào những nguyên vật liệu của thầy Rô mang vào.
Từ thập niên 1960, ông Rô đã chuyển sang dùng chất liệu sơn dầu vẽ nhiều tranh theo phái Ấn tượng. Hiện nay, trong dinh Độc Lập, phòng ăn của tổng thống còn treo hai bức tranh tĩnh vật sơn dầu “Trái cây” và “Cua cá”. Rất tiếc, số tranh ông còn lưu lại không nhiều, đa số đã tản mác trong các bộ sưu tập tư nhân trong nước và nước ngoài.
Gia đình ông Rô còn nhớ khi hoạt động sôi nổi thời gian trước năm 1975, ông đam mê nghệ thuật Nhật Bản và thực hiện nhiều tác phẩm theo phong cách Nhật. Ngoài việc vẽ tranh, ông nghiên cứu cách làm vườn Nhật Bản. Ông kết hợp với một chuyên gia về cây cảnh ở Thảo Cầm Viên, đi thiết kế vườn Nhật ở bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất) và cho những người bạn có đất đai. Mê đến độ ông xúi một ông bạn đồng ý để ông làm vườn Nhật miễn phí. Nương theo đà đó, ông chơi bonsai, xương rồng. Ngôi nhà ở gần cầu Bông, ông cũng thiết kế lại theo kiểu Nhật với trần thấp. Ông làm đồ gốm Nhật theo phong cách Raku, mua bàn xoay và đất sét nắn xong rồi gửi ở lò một người bạn trên Lái Thiêu để nung.
Sau năm 1975, ông hoàn toàn ngưng vẽ mà dành thời gian cho thú vui sưu tầm đồ cổ. Theo họa sĩ Uyên Huy, thời gian này, ông được Ban Giám hiệu Đại học Mỹ thuật TP.HCM giao cho việc nghiên cứu các chất liệu sáng tác và sản xuất màu dầu cho nhà trường và tập trung nghiên cứu sâu hơn về nghệ thuật đồ gốm. Khoảng năm 1976, các tác phẩm về nghệ thuật đồ gốm của ông và hoạ sĩ Ngô Bảo đã được Bộ Văn hóa và Hội Mỹ thuật Trung ương đem đi triển lãm tại Leipzig (Đông Đức trước đây).
Khoảng năm 1995, sức khỏe ông bị giảm sút. Đến năm 1996, một người con rể của ông ở nước ngoài về thăm và khuyến khích ông vẽ lại để có thể tổ chức một cuộc triển lãm. Ông bừng dậy, cùng con rể đi đặt sácxi, căng vải, mua màu dầu. Lúc ấy dù tóc rụng nhiều, người yếu đi nhưng ông say mê vẽ. Chất liệu sơn dầu giúp ông vẽ thoải mái và nhanh hơn nhiều so với sơn mài. Trong đợt này, ông chuyển sang vẽ tranh trừu tượng. Hơn chục bức được hoàn thành và cuộc triển lãm tổ chức tại Hội Mỹ thuật Thành phố. Gia đình cảm nhận cuộc triển lãm này khiến ông rất vui, khi bạn bè đến đông đủ xem tranh và chúc mừng. Cuối năm đó, ông giã biệt gia đình vĩnh viễn cùng vài bức tranh, đồ gốm để lại và một góc vườn Nhật trước sân nhà.

0 Nhận xét