NGUYỄN VĂN TRUNG

Họa sĩ Nguyễn Văn Trung sinh năm 1937 tại Sài Gòn. Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn năm 1959. Ông học Trường Mỹ nghệ Gia Định từ năm 1951-1954.

Theo nghề sơn mài từ thập niên 1950, thời vàng son của ngành nghề này lúc đương thời, ông đã chia sẻ về chuyện vào nghề hồi ấy.

"Tôi mê sơn mài từ năm 1952 sau khi xem triển lãm LAK của ba họa sĩ đương thời là Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Anh và Lưu Đình Khải. Nhưng khi vào Trường vẽ Gia Định, học chính là sơn dầu, sơn mài chỉ qua lý thuyết, coi mẫu, do trường không có điều kiện, phòng ốc dạy sơn mài. Nhờ thầy hiệu trưởng Lê Văn Đệ nhận đơn hàng vẽ đem về cho sinh viên làm, lấy thu nhập làm kinh phí mua nguyên liệu, sinh viên mới có cơ hội thực tập và vẽ sơn mài.

Đến khi trường nhận được hợp đồng làm bức vẽ có tên Lao động Việt Nam tặng Tổ chức Lao động quốc tế tại Thụy Sĩ, tôi được phân công thực hiện cùng anh em trong trường, bức đó lớn lắm, cao hơn 3 m, dài hơn 12 m. Sau hợp đồng, tiền thu về được nhà trường dùng mở rộng phòng ốc, mua vật liệu, làm kho, xây phòng ủ tranh gắn máy lạnh điều chỉnh nhiệt độ, xưởng sơn mài của trường ra đời. Tôi mê sơn mài, cả tuần học vẽ vài tiếng, còn bao nhiêu thời gian dành làm sơn mài cho thầy Đệ hết, nhờ vậy nắm được nhiều kỹ thuật, làm chủ được chất liệu.
Trước khi đến Nhật, tôi hình dung sẽ được học các kỹ thuật thể hiện ý tưởng, phong cách, ngôn ngữ sáng tác... Nhưng người Nhật lại chú trọng vào tấm vóc, với 30 công đoạn khác nhau. Đầu tiên là phần chọn ván gỗ tốt đã qua xử lý, tiếp đến là hom lót được thực hiện kỳ công, từ lớp sơn sống, phất lụa hoặc vải thô, đến công đoạn hom chu. Người Nhật sử dụng các loại bột kích cỡ khác nhau, từ to đến nhỏ dần, trộn từng loại vào sơn rồi phết chồng thành lớp lên mặt gỗ, tạo kết cấu liền mạch từ trong ra ngoài, bền chắc, làm nền cho những sáng tác nổi lên trên.

Còn ở VN, vóc làm tùy tiện, mỗi địa phương có thói quen riêng, thường dùng bột chu nhuyễn từ phù sa sông Hồng, quậy sơn rồi phết lên theo quan điểm dày là bền, nhưng dày mà không kết dính với cốt, chỉ một va đập là bong vỡ cả mảng."

Ông tu nghiệp sơn mài tại Viện Nghiên cứu Mỹ thuật Công nghệ Sendai - Nhật Bản năm 1960. Ông từng là giáo sư sơn mài Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn trước năm 1975, phó giám đốc Công ty Sơn mài Mê Linh trước năm 1975, giáo sư Trường Bách khoa Phú Thọ trước năm 1975, giáo sư Trường Cao đẳng Kỹ thuật trước năm 1975.

Trước 1975, Công ty Sơn mài Mê Linh do họa sĩ Nguyễn Văn Minh làm giám đốc và họa sĩ Nguyễn Văn Trung làm phó giám đốc nổi tiếng khắp miền Nam và khu vực về sơn mài. Công ty Mê Linh đã được mời làm tranh sơn mài và nhiều đồ nội thất sơn mài trong Dinh Độc Lập. Bức tranh Bình Ngô đại cáo hiện còn lưu lại trong Dinh Độc Lập chính là tác phẩm của hai họa sĩ Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Văn Minh. Bản thân họa sĩ Nguyễn Văn Minh cũng được xem như một họa sĩ sơn mài bậc thầy thời bấy giờ.

Sau 1975, họa sĩ Nguyễn Văn Trung cùng gia đình sang Mỹ sinh sống. Ông tiếp tục mở xưởng sơn mài tại gia và sáng tác nhiều tác phẩm duy trì danh tiếng của mình. Ngoài làm tranh sơn mài, Nguyễn Văn Trung còn có thú sưu tầm đồ cổ được nhiều người biết đến. Nhiều năm gần đây ông thường xuyên về Việt Nam và có nhiều cuộc tiếp xúc với đồng nghiệp trẻ trong nước.

Trong số ngành nghề thủ công truyền thống nổi bật của miền Nam thập niên 1950 - 1960, sơn mài là một thế mạnh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu với Bình Dương có làng Tương Bình Hiệp, sơn mài Thành Lễ; Sài Gòn có Mê Linh. Họa sĩ sơn mài Nguyễn Văn Trung là đồng sáng lập và điều hành sơn mài Mê Linh nức tiếng một thời (giám đốc là họa sĩ Nguyễn Văn Minh). Một trong những công trình nổi bật của Mê Linh hiện còn lưu lại là không gian trang trí nội thất phòng trình quốc thư ở Dinh Độc Lập hoàn thiện năm 1967. Điểm nhấn căn phòng là bức ghép 40 miếng sơn mài đề tài Bình Ngô đại cáo, cùng những chi tiết nội thất, bàn ghế, trang trí bằng chất liệu sơn mài, do họa sĩ Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Trung thực hiện.

So với những tác phẩm đương thời cùng họa sĩ Nguyễn Văn Trung, điểm khác biệt dễ nhận thấy ngay trong tranh của ông là chất liệu. Ông chọn toan vẽ dầu, lụa, hay vóc đều rất kỹ, cũng một phần do tính cách của ông. Màu sắc trong tranh của ông cũng rất tươi và mượt mà.

Điều anh em trong giới hội họa thích bàn luận khi nói về tranh của họa sĩ Nguyễn Văn Trung ngoài bố cục chặt chẽ, ý tưởng rộng mở, còn là cách chuyển màu tài tình. Lấy ví dụ cùng là sắc độ xanh nhưng cách ông chuyển từ xanh nhạt, xanh lợt, qua xanh đậm rất tự nhiên, rất “ngọt” theo cách nói về dụng màu trong hội họa.

Ông mất đi để lại một khoảng trống lớn về sơn mài Việt Nam, để lại nhiều ấp ủ, trăn trở về sơn mài Việt Nam khiến giới đồng nghiệp và công chúng thương tiếc.

Một số tác phẩm giá trị của họa sĩ Nguyễn Văn Trung:

Bình Ngô đại cáo


Ngày hội kinh kỳ(1957)


Đăng nhận xét

0 Nhận xét