ĐỖ MẠNH CƯỜNG

Đỗ Mạnh Cương sinh năm 1940 tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp từ trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội vào năm 1970, ông đã trở thành giảng viên tại hai trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội (từ 1979 đến 1990) và Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh (từ 1990 đến 2000). Ông cũng đã tổ chức nhiều triển lãm nghệ thuật tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài.

Phong cách sáng tác của Đỗ Mạnh Cương tập trung vào hiện thực và hiện đại, với sự đa dạng và sáng tạo. Dù sử dụng nhiều thủ pháp, bố cục, màu sắc và ký hiệu ngôn ngữ trong các tác phẩm, ông luôn tạo ra một nội lực mạnh mẽ và gợi cảm trong từng bức tranh.

Từ năm 2001, ông đã chuyển đến Hà Nội, nghỉ hưu và tiếp tục sáng tác.

Anh Đỗ Mạnh Cương trước đây là một công nhân và là một anh bộ đội. Anh đã nỗ lực học tập không ngừng về mỹ thuật và tốt nghiệp trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Sau đó, anh trở thành một họa sĩ ở xưởng tranh cổ động Trung ương và từ năm 1979, anh trở thành giảng viên tại trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Anh là một tấm gương phấn đấu đáng quý và rất yêu nghề. Không phải ai cũng xuất thân từ công nhân mà lại vẽ đề tài công nghiệp, nhưng anh Cương lại rất gắn bó với đề tài này. Trong hai năm 1980 và 1981, anh đã tạo ra nhiều tác phẩm về các công trình xây dựng như nhà máy nhiệt điện Phả Lại (Hải Dương), Uông Bí (Quảng Ninh), nhà máy xi măng Bỉm Sơn (Thanh Hóa), thủy điện sông Đà (Hòa Bình), cầu Thăng Long (Hà Nội), khai thác dầu khí Vũng Tàu, nhà máy xi măng Hoàng Thạch (Hải Dương)...Hàng trăm bức ký hạo bằng bột màu, màu nước, phấn màu, than đã được triển lãm tại trường Đại học Mỹ thu, ật Công nghiệp Hà Nội, tại Nha Trang (Khánh Hòa), tại Vũng Tàu. Qua các cuộc triển lãm, theo báo chí, tranh của anh đã miêu tả chân thật tinh thần hăng say lao động của anh chị em công nhân, cán bộ trên công trowngf đồng thời giúp cho người xem thấy được con đường công nghiệp hóa của đất nước. Những ký họa như “Móng ống khói nhà máy điện Phả Lại”; “Tàu hút bùn trên sông Đà”; “ Lò 5, lò 6 nhà máy nhiệt điện Uông Bí”; “Ở phân xưởng nghiền đá vôi”; “Hố móng đập tràn nhà máy thủy điện Hòa Bình”…đã đi vào ký ức của nhiều người, là cột mốc của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô một thời đậm đà, ấm áp.
Họa sĩ Đỗ Mạnh Cương còn thế mạnh khác, đó là tranh cổ động. Anh có 4 tranh cổ động được lưu giữ ở bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam: “Tổ quốc cần điện như cơ thể cần máu”, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Kẻ thù nào cũng đánh thắng”, “Trồng nhiều cam để phục vụ đời sống và xuất khẩu” mà mới đây Trung tâm Mỹ thuật Ứng dụng – Trường Đại học Mỹ thuật Hồ Chí Minh đã in lại trong tập tranh cổ động nhân dịp chào mừng 25 năm ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng! Tranh cổ động của anh bố cục rõ rang, màu sắc đẹp, dễ hiểu, thích hợp với thể loại tranh thông tin, giao tiếp, tiếp cận với quần chúng đông đảo một cách nhanh nhất. Chúng cũng phản ánh thể lực sung mãn, ý chí, nghị lực, nhiệt tình, lòng yêu nước của anh một thời trai trẻ…Bây giờ thì anh đã qua cái thời bộ đội, cái tuổi trung niên. Dường như càng xa cái tuổi trung niên anh càng mộng du ở đường biên của cõi mộng và cõi thực, ở ranh giới của thực và ảo. Phải chăng do vậy anh làm việc nhiều?

Anh vẽ đủ các thể loại: sơn dầu, bột màu, lụa, khắc gỗ, giấy dó, than, bút sắt , màu nước, phấn màu; các đề tài: lãnh tụ Hồ Chí Minh, quân đội, phong cảnh ba miền, lễ hội, chân dung, tĩnh vật…Trong đó có tranh anh vẽ tả thực, có tranh anh vươn tới cái siêu thực, hoặc nửa thực nửa mộng. Trong một lần triển lãm ở trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (1995), anh bày bức chân dung nhạc sĩ Văn Cao, tôi rất thích, trong tranh này với bút pháp đơn giản, mới lạ, anh đã thể hiện một Văn Cao sống động, đầy tâm trạng, dường như tồn tại trong không gian tĩnh lặng, chỉ lãng đãng âm thanh và tiếng nhạc. Ở tranh “Tuổi hoa” (sơn dầu), anh Cương vẽ một thiếu nữ dịu dàng bên hoa huệ, gợi nhớ một tác phẩm của Tô Ngọc Vân, nhưng thiếu nữ trong tranh của anh trong sáng, trẻ trung, trong cái không gian gần như siêu thực! Còn ở bức chân dung Nguyễn Sáng, anh có lối bố cục mới mẻ, anh thực hiện đề tài dưới dạng tranh tư liệu, đồng hiện chân dung và những tác phẩm gần gũi của Nguyễn Sáng lên mặt tranh. Ở những tranh khác, anh tái hiện cảnh vật, con người Hà Nội, những kỷ niệm mênh mông của một vùng trời thương nhớ, những thiếu nữ người H’mông, M’nông tắm suối, địu con lên rẫy, những nhà sàn, những cảnh đẹp nên thơ của núi rừng Tây Nguyên, Tây Bắc trong ánh bình minh, trong ánh trời chiều. Tranh anh cũng tái hiện những mảnh đời bất hạnh, những cô gái ăn sương, những trẻ thơ cơ nhỡ, lạc loài…Do vậy có thể nói có cái gì đấy rất nhân bản, rất gần gũi, rất dân tộc trong tranh anh. Tranh anh gắn bó với hiện thực Việt Nam, với đất nước, con người Việt Nam, với những trăn trở chuyển mình của dân tộc.

Ngoài trách nhiệm giảng dạy, anh tham gia đều đặn các cuộc triển lãm ở phòng tranh nhà trường và ở những gallery khác. Và dù có tài, có nhiều tranh được lưu giữ trân trọng ở bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia, ở bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, ở những bộ sưu tập ở nước ngoài như Anh, Mỹ, Đức, Ý, Úc, Bỉ, Nhật..., nhưng anh vẫn khiêm tốn, nhún nhường. Anh cư xử thân thiện, đúng mực với sinh viên và được các em kính trọng…Dạy học, vẽ tranh đều là cống hiến cho xã hội, đều là “cái nhắn lại, gửi lại” cho “300 năm sau”. Nhưng theo anh, “làm thầy” phải thường xuyên rèn luyện, nâng cao tay nghề để tiếp cận cái mới và làm gương cho sinh viên noi theo. Anh quan niệm “sáng tác và dạy học là sự bổ sung cho nhau”. Và theo anh: “ Có vốn kiến thức, sự say mê lao động, có bản lĩnh (không bảo thủ), cảm xúc chân thành…chắc chắn người nghệ sĩ sẽ có những kết quả tương xứng.”

Năm 2000 này, anh Cương tròn 60 tuổi, anh sắp sửa chia tay với mái trường, với đồng nghiệp trẻ để nghỉ hưu. Có chút gi đó bang khuâng, bùi ngùi trong lòng bè bạn! Ban Giám hiệu động viên anh cho in một tập tranh để kỷ niệm một đời gắn bó với tranh, với nghệ thuật…Tập tranh này tập hợp 160 tranh, tuyển chọn từ hơn 1400 bức mà anh đã vẽ. Nó phản ứng những suy tư, những trăn trở, những hoạt động của anh Cương, họa sĩ Đỗ Mạnh Cương, từ ngày anh bắt đầu cầm cọ. Tramh xưa nhất mà anh vẽ là tranh Phố Hàng Buồm (1963). Và tranh gần đây nhất là tranh Cầu Mỹ Thuận (1999). Tập tranh “đồng hiện” những cái tiêu biểu: tiêu biểu về đề tài, tiêu biểu về chất liệu, tiêu biểu về kỹ thuật, tiêu biểu cho một thời kỳ…Nó là món quà của anh, cho anh và cũng là món quà của tất cả chúng ta.

Trước khi anh về hưu, chúng ta mừng cho anh có một cuốn sách tranh tuyển chọn trong một “gia tài” to lớn, có được sự nghiệp to lớn, có được “quỹ thời gian” còn lại trong đời để tiếp tục sáng tác. Ở Việt Nam, gia tài như thế không phải là nhỏ, nó là kết quả của cả một đời…Một đời với tranh!


Đăng nhận xét

0 Nhận xét