Họa sĩ Tôn Thất Đào sinh ngày 15 tháng 10 năm 1910 - Mất ngày 02 tháng 9 năm 1979 tại phủ Song Tùng – nay là 53 Mạc Đỉnh Chi, Phường Gia Hội... Sinh ra và lớn lên trong gia đình Nho học, cùng ông nội là Tôn Thất Loan - Binh bộ Thượng thư kiêm Nhiếp Tôn Nhơn Phủ, Hữu Tôn Khanh Đại thần, dòng dõi Hiến Tôn Hiếu Minh Hoàng đế (Hoàng đế thế thứ 7), thân phụ ông là Tôn Thất Tu - quan chức Nam Triều.
Trong gia đình có nhiều anh chị em, duy nhất Ông có có năng khiếu và đam mê từ thời thơ ấu, về sau khi lớn lên Ông theo con đường hội hoạ. Thân phụ Tôn Thất Tu lúc đó đang giữ chức Tri phủ Hà Trung (coi 3 huyện ở Thanh Hoá), đưa ông đến gần với ngôi trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (L’École supérieure des Beaux - Arts de L’Indochine). Ông tốt nghiệp Ban Hội họa và trang trí khoá 8 (1932 - 1937) cùng với Nguyễn Văn Khánh, Lương Xuân Nhị, Đỗ Đình Hiệp, Nguyễn Văn Thâu, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Thị Nhung và Lê Yên… Ông được sự hướng dẫn bởi các danh sư như: Victor Tardieu, Inguimberty, L.Roger, Defenix, George Khánh, Nam Sơn… Sau khi tốt nghiệp, Tôn Thất Đào được bổ nhiệm dạy hội họa tại trường trung học Khải Định, trung học Quốc Học, nữ trung học Đồng Khánh, trung học Kỹ thuật, trung học Tín Đức, trung học Kiểu Mẫu Huế.
Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Nguyễn Dương Đôn quyết định Ông đứng ra sáng lập và bổ nhiệm chức vụ Giám đốc đầu tiên trường Quốc Gia Cao đẳng Mỹ thuật Huế (1957-1961) – nay là Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế. Năm 1962-1963, hoạ sỹ Mai Lang Phương đảm trách chức vụ này. Từ 1964-1965, họa sĩ Tôn Thất Đào trở lại chức vụ Giám đốc. Giai đoạn đầu dù gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, đào tạo nhưng Trường vẫn đạt được những thành tích cơ bản như: Đã định hình được khung chương trình và nề nếp thi cử, thời gian đào tạo 4 năm, tổ chức thi tốt nghiệp chặt chẽ, mỗi khoá tối đa 20 người, đào tạo có chất lượng trong chuyên môn.
Trường được thành lập cùng năm với Viện Đại học Huế. Thời kỳ đầu, Trường trực thuộc Viện Đại học Huế (1957). Thời gian này Trường tọa lạc tại số 15 đường Phan Đình Phùng, đã đào tạo đến Khoá 3. Năm 1960 Viện Đại học Huế bàn giao trường cho Nha Mỹ thuật học vụ thuộc Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên miền Nam, thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa. Giai đoạn (1960 - 1974), Trường trực thuộc Trung ương chủ quản và chuyển đến lầu Diên Binh Vệ, nằm bên phải cửa Hiển Nhơn trong khuôn viên Đại nội Huế.
Từ sự chỉnh chu của người thầy giáo, chất nghệ sỹ từ tác phẩm và người xây dựng có tầm vóc, ảnh hưởng lớn đối với ngành mỹ thuật Huế, Chánh phủ Nam - Triều đã đề cử Họa sĩ Tôn Thất Đào vào Đại Nội để dạy hội hoạ cho Thái tử Bảo Long dưới thời Bảo Đại (1941). Trong thời gian này, Ông đã để lại dấu ấn qua những tác phẩm hội hoạ phấn tiên trên giấy. Về sau những người yêu mến đặt cho Ông một tên gọi rất trang trọng là “Hoạ sỹ Cung Đình”.
Ông là “người lái đò” chuyên chở những đường nét, hình thể màu sắc đến với con người vùng đất văn vật - thế hệ sau này đã duy trì bền bỉ cho đến ngày hôm nay. Chúng ta đã có một thế hệ hoạ sỹ, nhà điêu khắc đầy tài năng mà bạn bè quốc tế biết đến trong giai đoạn hội hoạ hiện đại thì ông và những con người ấy chính là nhân chứng của thời gian. Trước năm 1957 ông đã hướng dẫn hội hoạ cho nhiều người học trò và cũng là con cháu trong gia đình sau đó đã thành danh, tác phẩm của họ được các tổ chức nghề nghiệp công nhận và trao nhiều giải thưởng lớn trong đó ưu tú nhất là hoạ sỹ Thái Nguyên Bá (1938-2008) ông từng nhiều giải thưởng các cuộc thi về vẽ tranh Huế, tem Việt Nam, Huế cổ kính và trầm lặng, tranh lụa “công dung ngôn hạnh” đạt giải ba toàn quốc, sau đó ông được học bổng du học ở trường Mỹ thuật quốc gia Paris.
Từ năm 1957 đến năm 1975, Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế đã đào tạo gần 15 khoá, với 150 sinh viên đã tốt nghiệp. Trong đó phải kể đến những hoạ sỹ tên tuổi trong nền hội hoạ hiện đại thế kỷ XX như Đinh Cường, Nguyễn Mai Chửng… tạo nên một trào lưu nghệ thuật mới đóng góp lớn cho nền mỹ thuật Huế và Quốc gia.
Sự nghiệp sáng tác của Họa sĩ Tôn Thất Đào đã được lòng người hâm mộ hội hoạ, và khi xem qua bảng thành tích tưởng-thưởng cùng thành tựu nghệ thuật của ông, ta càng thấy ngưỡng mộ và tôn kính ông. Tác phẩm của họa sĩ Tôn Thất Đào đã đạt được nhiều thành tựu đáng kính trên cả trong nước và quốc tế. Ngoài ra, ông còn nhận được các Văn bằng Đấu xảo Mỹ thuật tại Hà Nội năm 1938, Cao Miên năm 1939, Nhật Bản năm 1940, Sài Gòn năm 1945, Vatican năm 1950 và 1952… Tất cả những thành tích này đã chứng tỏ tài năng nghệ thuật vượt trội của ông.
Trong sáng tác tranh vẽ của ông rất nhiều chất liệu: lụa, sơn dầu, sơn mài, bột màu, phấn tiên… nhưng thế mạnh của ông vẫn là chất liệu lụa rửa với cái chất trữ tình của phong cảnh, ẩn chứa ở dáng người thiếu nữ mang đậm nét Huế, dịu dàng và sâu lắng trong gia đình có gia phong, lễ nghĩa. Tranh của ông mang đậm cốt cách, sự hoài cổ và mộng mơ của phong cảnh và con người xứ Huế. Cái chất hoài niệm, trầm hương, nhẹ nhàng sâu lắng đã thấm đượm vào chất hội hoạ của ông khi vẽ về những thiếu nữ Huế trong các dáng điệu cùng với các nhạc cụ Cung đình Huế. Ở tranh phong cảnh, thấy rõ được cái tình với Huế, phảng phất cảnh sương khói khi chiều tà hoà quyện với không gian bao phủ trên các chi tiết vốn cổ, cùng cỏ cây hoa lá đất Kinh Thành. Chất Huế nó gắn quá sâu trong ông, thể hiện qua nét vẽ và màu sắc, những hàng cây sứ cổ của Huế trong tranh. Nghệ thuật vẽ hàng cây sứ của ông đã vượt ra khỏi cái nhìn về thị giác mà nó đạt đến mức độ của một người trồng cây và chăm cây như nghệ thuật Bon-sai ngày nay. Hay chúng ta thấy ở bức tranh cây thông - Thế Miếu, chỉ một bức tranh phong cảnh nhưng đã thể hiện sự nghiêm túc về bố cục và cách chọn đối tượng, sự chắt lọc và duy mỹ đến mức cao nhất… ngày nay, cây thông ấy vẫn còn tồn tại ở Thế Miếu, Đại Nội Huế.
Hoạ sỹ Tôn Thất Đào là bộ mặt văn hoá lớn của Huế, thiết nghĩ những tác phẩm hội hoạ mà ông để lại cần có cái nhìn trân trọng, những bài giảng của ông về hội hoạ cần được lưu giữ và truyền đạt lại cho thế hệ sau, kết hợp với xu hướng mỹ thuật hiện đại, nhưng không làm mất đi nguồn gốc từ những ngày đầu thành lập.
0 Nhận xét