THÁI TUẤN

Thái Tuấn là tên thật của Nguyễn Xuân Công, sinh ngày 11-9-1918 tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội trong một gia đình công chức giàu có. Anh là đồng tuổi và đồng môn với họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm. Thái Tuấn từng học tại trường Mỹ Nghệ Gia Định và theo lớp dự bị tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, cùng với Phan Tại và Đặng Thế Phong, khoảng năm 1938-1940, sau đó bỏ dở.

Trong thời gian chiến tranh chống Pháp, Thái Tuấn trở về quê ở Thanh Hóa và thực hiện các tác phẩm tranh cổ động và quảng cáo, cũng như thiết lập mối quan hệ với nhiều nhà văn kháng chiến như Thanh Châu, Quang Dũng, Hồ Dzếnh và Nguyễn Tuân. Sau khi hiệp định Genève được ký kết vào năm 1954, ông di cư từ Thanh Hóa đến Sài Gòn để làm nghề vẽ quảng cáo và trang trí. Ông chính thức chuyển sang vẽ tranh sơn dầu nghệ thuật và sử dụng bút danh Thái Tuấn khoảng năm 1956-1957. Cùng với các họa sĩ di cư khác như Ngọc Dũng, Duy Thanh và Tạ Tỵ, Thái Tuấn đã đóng góp cho việc xây dựng nền hội họa hiện đại tại Sài Gòn với mục tiêu biến thành thủ đô của một nền văn hóa mới. Ông cũng thường viết về lý luận về hội họa và mỹ thuật trên các tạp chí Sáng Tạo, Bách Khoa và Văn, các tạp chí phổ biến trong thời gian đó. Những bài viết của ông có tính chất phổ quát, nhẹ nhàng và cởi mở hơn là chuyên môn, giúp cho nhiều độc giả làm quen với hội họa, một ngành nghệ thuật mới đối với đại chúng. Những bài viết kết hợp với tác phẩm hội họa đẹp và dễ hiểu đã giúp ông xây dựng được uy tín trong ngành. Ông cũng tham gia vào nhiều hội đồng giám khảo cho các giải thưởng và phòng tranh. Cuộc triển lãm cá nhân của ông vào các năm 1958, 1970 và 1973 đều được dư luận đánh giá cao về cả nghệ thuật và thương mại.

Khi Thái Tuấn bắt đầu vẽ tranh sơn dầu ở độ tuổi bốn mươi, các tác phẩm của anh không còn tập trung vào sắc cạnh mà thay vào đó, mang đến cho người xem cảm giác hoài niệm và sự tinh tế văn học. Các tác phẩm của anh mang đậm không khí u hoài, gợi lên những cảm xúc tinh tế và thi vị, tạo nên một không gian thoáng đãng và khác biệt. Trong các tác phẩm của anh, phụ nữ là đề tài ưu tiên, với nét đẹp được vẽ bằng cách tập trung vào nhan sắc, dáng dấp, cử chỉ và y phục thuần túy Việt Nam trên nền màu sắc dịu nhẹ, dung dị và tế nhị.


Tuy nhiên, nhan sắc trong các tác phẩm của Thái Tuấn không chỉ đơn thuần là vẻ đẹp của phụ nữ mà còn là một thoáng đẹp giữa trần gian. Theo họa sĩ Đinh Cường, người đã có tâm giao và thâm giao với Thái Tuấn từ nửa đầu thế kỷ trước, các tác phẩm của Thái Tuấn mang trong mình một cấu trúc tiềm ẩn. Thái Tuấn không vẽ người mẫu mà chỉ vẽ tiếng hát, tuy vậy, người xem vẫn có thể cảm nhận được nghệ sĩ đang vẽ về ai. Thường xuyên tâm sự với mọi người rằng anh vẽ người nhưng lại không vẽ người, ông muốn tạo ra một cảm giác như vẽ nhưng lại không vẽ.

Thái Tuấn là một họa sĩ quan tâm đến việc vẽ phụ nữ và đôi khi, mái tóc của họ vận hành cấu trúc của bức tranh như trong bức tranh Cội Nguồn năm 1970. Nhưng trong tranh, mái tóc cũng mang trong mình một không khí thu tạnh, mơ màng và hương thơm nồng. Năm 1964, Thái Tuấn đã vẽ một bức chân dung thiếu nữ và đặt tên là "Tes Yeux" (Mắt Em) bằng tiếng Pháp, lấy cảm hứng từ câu thơ "Mắt em là một dòng sông". Trong khi đó, bức tranh "Bông Hồng Bạch" vào năm 1974 thể hiện được hồn của bông hồng trong hơi phiêu bạt, như một lẵng hoa thiếu vắng cả bông hoa, theo ý tưởng của Mallarmé.

Vào lúc Thái Tuấn bước sang tuổi 40 và đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về văn chương, ông để lại cho thế giới nhiều tác phẩm hội họa với tinh thần văn học phảng phất. Trong số đó, có những bức tranh như Dư Âm hay Dòng sông cũ (vẫn xuôi niềm thương…) có thể coi như là những bài hát. Tiếng Pháp dùng từ artiste-peintre để chỉ hoạ sĩ, nhưng với Thái Tuấn, từ "artiste" thể hiện nhiều hơn chất "peintre". Trong mỗi hoạ sĩ, có một nghệ nhân và một nghệ sĩ: nghệ nhân tập trung vào bức tranh, trong khi nghệ sĩ tìm cứu cánh từ Cái Đẹp, mà chữ "Đẹp" được viết hoa đại diện cho cõi Vô Cùng. Vì thế, mỗi bức tranh của Thái Tuấn, dù đã hoàn thành và tuyệt đẹp, vẫn chứa đựng sự thiếu vắng, nỗi chờ mong mãi vẫn còn lưu lại. Trong tranh của Thái Tuấn, những khoảng trống, những không gian trống được hiểu theo cách đặc biệt, với những trời thu xanh ngắt, chiều sông hẻo lánh, ánh nắng phân chia bãi cỏ, gợi lại cảm giác mộng mơ và nhớ nhà khi thưởng thức, như thể hình ảnh đó đang châm điếu thuốc. Những bức tranh của ông mang đến cho người xem một không gian u uất, mơ màng, tư lự, ước ao trong mùa xuân chưa đến, mùa thu chưa qua. Cuộc đời Thái Tuấn giống như một bức tranh dang dở, vẽ mãi cũng chưa xong vạt trăng tơ, tà nắng lụa.

Tuy nhiên, họa sĩ không quá chú trọng vào truyền thống, trường phái hay tính dân tộc trong sáng tác của mình. Thậm chí trong những năm 1960-1970, thời kỳ sáng tác đồ sộ nhất, họa sĩ còn không quá quan tâm đến dân tộc, với các đề tài xoay quanh biên giới và lịch sử. Đến năm 1984, khi đã trưởng thành, họa sĩ mới bắt đầu có mong muốn về cảnh quan và nông dân Bắc Bộ thế kỷ trước, và đề tài về quê hương trở nên rõ nét như một ám ảnh.

Hiện nay, nhiều người yêu cầu nghệ thuật phải có bản sắc dân tộc, tuy nhiên điều này có khi lại gây ra những luận điệu thô sơ. Để lý luận được khách quan, có thể so sánh với một đề tài tương tự trong tôn giáo và nghệ thuật. Jacques Maritain, một nhà văn công giáo, đã cảnh báo rằng nếu các nghệ sĩ sử dụng nghệ thuật để phục vụ đức tin hoặc sử dụng đức tin để phục vụ nghệ thuật, họ có thể phá hoại cả nghệ thuật và đức tin. Điều tương tự cũng áp dụng cho nghệ thuật dân tộc. Maritain cho rằng trên lý thuyết, nghệ thuật là vượt thời gian và không gian, supra tempus, supra locum. Tuy nhiên, trong thực tế, nghệ thuật luôn bị ảnh hưởng bởi đề tài và cội nguồn của nó, thuộc về một thời đại và một vùng đất. Những tác phẩm đẹp và nhân đạo nhất thường mang đậm dấu ấn của đất nước.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét