Năm 1920 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Phạm Hậu khi ông thi đỗ vào Trường Bách nghệ Hải Phòng, một trường dạy nghề có mô hình nguyên mẫu của các trường dạy nghề châu Âu thời đó. Tại đây, ông đã phải học đầy đủ chương trình học nghề thực hành bốn năm và khi tốt nghiệp, có thể tự nuôi sống mình. Phạm Hậu đã được đào tạo chuyên sâu các nghề tiện, nguội, đúc, hàn, bào, phay, gò... cùng với nghề lái xe. Với bốn năm rèn giũa khắt khe, trường dạy nghề đã giúp ông có ý chí và nghị lực vững vàng của một người lao động có kỷ luật.
Năm 1925, Trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời. Năm 1929, khi khóa 5 được mở, Phạm Hậu, dù không có kinh nghiệm đào tạo nghệ thuật nào ngoài ba tháng học của họa sĩ Nam Sơn, quyết tâm thi vào trường. Mặc dù số lượng thí sinh khá đông, chỉ tiêu của trường vẫn chỉ có sáu chỉ dành cho khu vực Đông Dương, gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Miên. Với tài năng bẩm sinh, năng lực tự học và trải qua nhiều khó khăn, Phạm Hậu đã đỗ đứng thứ hai trong số sáu người được tuyển vào khóa ấy, bao gồm: Trần Bình Lộc, Phạm Hậu, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Quyền, Nguyễn Văn Hiến và Nguyễn Văn Thuần. Điều này chứng tỏ tại tuổi 26, Phạm Hậu đã trưởng thành với đầy đủ đam mê để theo đuổi nghệ thuật.
Chương trình đào tạo của Trường Mỹ thuật Đông Dương dưới thời hiệu trưởng Tardieu rất đa dạng. Nó bao gồm các bài tập cơ bản như hình họa, ký họa, trang trí cũng như các bài tập nghiên cứu thiên nhiên. Sinh viên phải luyện tập sử dụng các chất liệu như thuốc nước, than, màu dầu, lụa, bột màu... Năm 1932, nhà trường đã bổ sung môn chuyên nghệ sơn cổ truyền vào chương trình học. Với tình yêu nghệ thuật và niềm đam mê học hỏi, đặc biệt là trong những năm cuối, Phạm Hậu đã phát huy được cá tính và năng lực của mình.
Sau khi tốt nghiệp, Phạm Hậu quay về Đông Ngạc và trở thành một họa sĩ tự do. Dù sơn mài chỉ được giảng dạy một giờ mỗi tuần tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, nhưng với sự nhạy cảm và năng khiếu bẩm sinh, ông trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực này. Hiệu trưởng Tardieu đã để ý đến tài năng của ông và ngay khi tốt nghiệp, ông được giao cho một hãng thuốc lá Pháp để vẽ 50 chiếc hộp thuốc lá sơn mài có trang trí rồng phượng. Như vậy, xưởng sơn mài riêng của ông với đội ngũ thợ thủ công và thợ sơn đã ra đời tại Bối Khê. Có thể đây là bước đầu tiên của sản xuất tập trung tiểu thủ công nghiệp ở Việt Nam? Tại xưởng sản xuất của mình, Phạm Hậu đã tổ chức quản lý và chuyên môn hóa quá trình sản xuất sơn mài, từ thợ mộc, thợ xẻ, thợ làm vóc, thợ vẽ đến thợ đánh bóng. Mỗi năm, hàng trăm tác phẩm và sản phẩm sơn mài như tranh treo tường, bình phong, tủ, đồ thờ và đồ mỹ nghệ của ông được sản xuất và xuất khẩu sang nước ngoài.
Công việc đang tiến hành tốt đẹp thì tạm thời bị gián đoạn trong thời gian ngắn do Kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19/12/1946.
Năm 1949, với lòng yêu nghề và quyết tâm xây dựng nghệ thuật ứng dụng trong nước, Phạm Hậu cùng với các họa sĩ Trần Văn Du, Trần Quang Trân đã thành lập Trường Quốc gia Mỹ thuật (École nationale d’Art Deco), được Bộ Giáo dục Quốc gia phê duyệt. Đây là tiền thân của trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp ngày nay.
Từ năm 1956, ngành sơn mài trường Mỹ thuật Công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ với sự tham gia của nhiều họa sĩ tài ba từ Trường Mỹ thuật Đông Dương như Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Lê Quốc Lộc, Phạm Đức Cường, Nguyễn Kim Đồng cùng với nghệ nhân Đinh Văn Thành.
Ông không chỉ sáng tác mà còn chú trọng biên soạn tài liệu chuyên ngành về sơn mài. Các tổng kết của ông như Lý thuyết cơ bản về nghề sơn, Kỹ thuật nghề sơn cổ truyền và sự biến đổi của nó, Các loại vật liệu trong sơn mài và phương thức bảo quản, Các loại dụng cụ và cách thức sử dụng trong nghề sơn vẫn giữ được giá trị đến ngày nay và được xem như cẩm nang đào tạo nghề sơn ở Việt Nam.
Phạm Hậu đã dành cả cuộc đời để cống hiến cho sự phát triển và bảo tồn chất liệu sơn mài. Ông để lại cho chúng ta một kho tàng đồ sộ, không chỉ bao gồm các tác phẩm nghệ thuật như Gió mùa hạ, Một gia đình trong cánh rừng, Cảnh chùa Tây Phương... mà còn rất nhiều sản phẩm ứng dụng được làm bằng sơn mài trong đời sống xã hội của Việt Nam.
Trong 30 năm làm sơn mài và giảng dạy trong lĩnh vực này, uy tín và danh tiếng của Phạm Hậu đã vượt ra ngoài biên giới. Ông đã đặt nền móng cho nghệ thuật sơn mài Việt Nam, giúp cho chất liệu sơn mài trở thành một bộ phận không thể thiếu trong Mỹ thuật ứng dụng và có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.
Tác phẩm tiêu biểu:
- Chùa Thầy(1934)
- Phong cảnh với thuyền buồm(1943)
- Gió mùa hạ(1940)
- Mục đồng chăn trâu thổi sáo Hoàng hôn vàng trên vịnh Hạ Long
0 Nhận xét