PHẠM HẦU

Phạm Hầu sinh ra trong một gia đình nho học ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cha ông là Phạm Liệu, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1898), đứng đầu trong “Ngũ phụng tề phi” xứ Quảng, làm Thượng thư bộ Binh đời vua Bảo Đại. Lúc Phạm Hầu mới sinh ra, cha ông đã cảm tác bài thơ đặt tên cho ông:

“Nhờ phước ông bà có được con

Tai to mắt lớn mặt vuông tròn

Hầu sao giữ được tâm như tướng

May có duyên gì với nước non”

Lúc sinh thời, bà Phạm Thị Lộc (chị ruột của Phạm Hầu) kể lại : “Khi sinh đúng con trai, cha tôi đặt tên là Hầu, chữ đầu của câu thơ thứ ba. Cậu bé khôi ngô, tuấn tú, cha tôi rất vui sướng. Nhưng càng lớn, tâm càng sáng rỡ, thông minh thì thân thể cậu lại hay ốm yếu, eo oặt… Chú ấy thường sống gần với cha chúng tôi nhiều hơn ở kinh đô Huế. Cũng như các anh chị, chú Hầu được học hành đỗ đạt hanh thông, đậu Thành chung tuổi 18 ở Huế, rồi ra Hà Nội học, chỉ có hè mới về quê với các anh thăm làng, thăm bà con”.

Phạm Hầu theo gia đình ra học ở Trường Quốc học Huế. Sau đó, ông thi đậu vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 13 (1939-1944), cùng khóa với các họa sĩ Trần Đình Thọ, Nguyễn Sĩ Ngọc, Huỳnh Văn Thuận, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Trọng Hợp và nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim… Phạm Hầu có nét đặc biệt hơn các bạn họa sĩ là anh rất yêu thơ, và thích gặp gỡ, kết bạn với những nhà Thơ mới nổi tiếng như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên. Thậm chí anh còn ở chung phòng với Lưu Trọng Lư.
Về hội họa, anh đã để lại ấn tượng cho người bạn họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp: “Anh Hầu thích dùng màu xanh lam, lam hơi tím một chút. Đó là màu nền các bức tranh của anh, và là màu tâm hồn anh đã phủ lên tranh. Sau mỗi lần nghỉ hè về, anh Hầu bày tranh cho xem. Tranh anh có nhiều sáng tạo, vẫn màu lam nghiêng tím chủ đạo ấy, cảm thấy đẹp, có gì đó cô đơn, lạ lùng. Mỹ thuật mỗi khi nó vào người, nó giữ lại, nó lại lâu, mới lạ đến thế.”

Trong một cuộc triển lãm quốc tế tại Tokyo (1940), tác phẩm “Cô đơn (Hòn đá rêu xanh) của Phạm Hầu đạt giải nhất, chứng tỏ khả năng hội họa của Phạm Hầu không phải tầm thường. Họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp nói thêm về tranh Phạm Hầu: “Nó trầm lắng. Trong nghề, có trình độ chênh nhau, mà bị cuốn hút, bị rung động, nó đẹp, nó cô đơn, mà đó, đó chính là cái màu nền nghệ thuật mà Phạm Hầu sử dụng, đó chính là tính cách của con người Phạm Hầu, đó là nghệ thuật của Phạm Hầu và thành công của Phạm Hầu, không dễ gì tranh của một họa sĩ, sau 50 năm lưu lạc không còn thấy lại một lần tranh của họ, mà mình vẫn còn bị ám ảnh bởi cái màu tranh nghệ thuật ấy…”.

Phạm Hầu là một họa sĩ bị mất tất cả các bức tranh của mình theo thời gian. Chỉ còn lại bức tranh minh họa "Dập dìu lá gió, cánh chim" được lưu trữ trong tập văn họa kỷ niệm Nguyễn Du năm 1942. Tuy nhiên, vào tháng 5/2017, nhà văn Hòa Văn đã công bố trên blog của mình về việc tìm thấy một tác phẩm của Phạm Hầu. Đó là bức chân dung thợ mộc Trần Văn Anh, được vẽ bởi bút chì với đường nét rất đẹp. Tác giả đã dẫn lời của ông Trần Cao Hoang (tên thường gọi Trần Văn Quận, cháu nội ông Trần Văn Anh hiện sống tại làng Trừng Giang) cho biết rằng, ông Trần Văn Anh làm thợ mộc và thường làm các đồ gia dụng bằng gỗ cho ông Phạm Liệu. Một ngày, khi Phạm Hầu về thăm nhà, ông đã gặp Trần Văn Anh đang lắp ráp đồ mộc và đã yêu cầu ông đến nhà mình vào buổi trưa để vẽ chân dung của ông. Sau đó, bức chân dung này đã được lưu giữ và trở thành di ảnh thờ. Mặc dù bức vẽ không còn nguyên vẹn như ban đầu do giấy bị hư hỏng, nhưng nét vẽ vẫn thể hiện được tinh thần và tâm hồn của Trần Văn Anh.

Về thơ, thơ Phạm Hầu có chất, biểu hiện bằng một thị điệu riêng khá quyến rũ. Cái quyến rũ của chất thơ là lạ, rung cảm và mong manh. Đặc biệt, thơ Phạm Hầu toát ra một thứ khí vị tiêu trầm, sâu lắng vào lòng người đọc. Như Hàn Mặc Tử đã có lần thốt lên: Người thợ phong vận như thơ ấy, thơ Phạm Hầu là con người, là tinh túy của cõi trần ghé tạm vài mươi năm tuổi trẻ. Kỳ lạ còn vương đến từ chỗ, cái đẹp lụi tàn được dự cảm nhưng tha thiết đến rướm máu: “Buồn len lỏi trên đầu cây thi vị/ Gieo lệ vàng trên ngấn nắng chiều trôi” (Chiều buồn).

Trong suốt cuộc đời, nhà thơ Chế Lan Viên đã ca ngợi tài năng thơ ca của Phạm Hầu, khi ông nói: "Thơ anh ấy rất hay và xúc động: “Tôi đau, trời đẹp, nếu tôi đau/ Mà muôn đời mưa nắng hiểu lòng nhau”... Những nhà thơ như thế, chỉ cần viết một câu, một chữ cũng đủ để ghi dấu một cuộc đời." (Trích từ sách "Vẫy ngoài vô tận" của NXB Thanh Niên năm 2001). Ngoài Chế Lan Viên, những nhà thơ lớn khác như Lưu Trọng Lư trong hồi ký "Nửa đêm sực tỉnh", và Huy Cận trong "Hồi ký song đôi" cũng đã ghi lại một thời gian đẹp trong sự tôn trọng và tình bạn với Phạm Hầu, cũng như sự tiếc nuối về một tài năng đã qua đời.

Trong Thi Ca Tiền Chiến, đã có một Xuân Diệu làm người thanh niên ráo riết, một Huy Cận làm người thanh niên ngậm ngùi, một Hàn Mặc Tử làm người thanh niên đau khổ cực độ, Chế Lan Viên làm người chứng nhân cho điêu tàn, Hồ Dzếnh làm người đề huề giao hảo… lại thêm một Phạm Hầu làm người nghệ sỹ cao vời trang trọng mang một thánh tính u u ẩn ẩn như Nerval. Phạm Hầu mở ra trở lại chân trời bát ngát của Nguyễn Du trong giai đoạn cuối buổi Hoàng Hôn. Ông nói ít hơn Nguyễn Du, ông không đi vào giữa những thiên vạn thể của biển dâu, ông chỉ đơn sơ có mấy lời, nhưng mấy lời đào sâu khôn tả trong mạch giếng tân thanh. “Mãi Dâng Trọn Hồn Vui” là một kỳ tác muốn chìm sâu xuống mạch thẳm sinh tồn. Rồi khi ta cũng chịu ngập mình xuống đáy thẳm kia, thì kỳ tác nọ bỗng hiện thị như một Tòa Cổ Tháp nguy nga.

Ngày 03 tháng 01 năm 1944 họa sĩ Phạm Hầu mất tại Đồng Hới (Quảng Bình) – Huế, hưởng dương 24 tuổi.

Tác phẩm tiêu biểu:

Dập dìu lá gió, cánh chim(Tranh)


Lý tưởng(thơ)


Vọng Hải đài(thơ)


Chiều buồn(thơ)


Đăng nhận xét

0 Nhận xét