Họa sĩ Phạm Văn Đôn sinh năm 1918 tại Thành phố Hà Nội và tốt nghiệp khóa XIII Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vào năm 1944. Năm 1945, ông bắt đầu làm việc tại Hội Văn hóa Cứu quốc. Năm 1948, sau thời gian làm việc tại đoàn kịch tuyên truyền giải phóng, họa sĩ Phạm Văn Đôn đã chuyển sang làm Trưởng đoàn kịch “Chiến sĩ” của Bộ Tư lệnh Quân khu IV và giữ chức vụ này đến năm 1951. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Nguyễn Sỹ Ngọc cùng với vợ là nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim trở thành thành viên của Hội Văn hoá Cứu quốc và tham gia Ban biên tập Tạp chí Tiền Phong, cơ quan ngôn luận của Hội Văn hoá Cứu quốc. Ông đã từng giữ chức vụ chủ nhiệm khoa tại Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và làm việc tại Quốc doanh Chiếu bóng và Nhiếp ảnh trung ương. Năm 1957, ông đã trở thành thành viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam.
Họa sĩ Phạm Văn Đôn là một người nhiệt huyết tham gia vào các hoạt động Cách mạng, ông dành trọn tâm huyết của mình cho nền Mỹ thuật Việt Nam. Các tác phẩm của ông được biết đến với nhiều chất liệu thể hiện khác nhau như tranh khắc gỗ, tranh in đá, sơn mài, sơn khắc và lụa. Trong các tác phẩm của ông, người xem có thể cảm nhận được những đường nét, sắc màu mạnh mẽ, các gam màu tươi sáng và va đập, mang đến một sự cuốn hút biểu cảm mạnh mẽ, khiến lòng người bị lay động. Các bức tranh của ông mang đậm chất mộc mạc của tranh dân gian và đạt được hiệu quả nghệ thuật cao. Để vinh danh những đóng góp và cống hiến của mình, năm 2001, họa sĩ Phạm Văn Đôn đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I với các tác phẩm: Tình quân dân, Lão dân quân, Bộ tranh in đá về du kích Cảnh Dương, Bến đò Cảnh Dương, Du kích đặt mìn...
Được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I vào năm 2001, họa sĩ Phạm Văn Đôn đã được vinh danh cho các tác phẩm nổi bật của mình như: Bộ tranh in đá về du kích Cảnh Dương bao gồm Bến đò Cảnh Dương, Du kích đặt mìn, Tình quân dân, Mẹ Mão Lệ Sơn và Lão dân quân (1950); Vua Quang Trung giải phóng Thăng Long - Khắc gỗ màu - 55x49cm (1979); Ô Quan Chưởng - Sơn mài - 60x90cm (1989). Ngoài những tác phẩm nghệ thuật đáng chú ý này, ông còn có nhiều đóng góp đáng kể cho việc đào tạo các thế hệ hoạ sĩ Việt Nam.
Họa sĩ Phạm Văn Đôn đã qua đời vào ngày 13 tháng 03 năm 2000 tại thành phố Hà Nội.
Thành tích:
Huân chương Lao động hạng Nhất
Huân chương kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng Nhất
Huân chương Kháng chiến hạng Ba
Huân chương Chiến thắng hạng Ba
Huy chương Vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam
Huy chương Chiến sĩ Văn hoá
Giải thưởng Triển lãm Duy nhất năm 1944
Giải thưởng Triển lãm Mĩ thuật tháng Tám 1946
Giải thưởng Triển lãm Hội hoạ 1951 tại Việt Bắc
Giải thưởng chính thức Triển lãm Đồ hoạ Quốc tế Intergrafik năm 1980 tại Berlin – Đức)
Giải A Triển lãm 10 năm Đồ hoạ Toàn quốc năm 1985
Giải Nhì tại cuộc thi minh hoạ sách thiếu nhi ở Thuỵ Điển năm 1985
Giải thưởng Triển lãm Mĩ thuật Thủ Đô năm 1986
Tác phẩm tiêu biểu:
- Bác Hồ
- Vua Quang Trung giải phóng Thăng Long(1979)
- Du kích Cảnh Dương(1950)
- Mâm ngũ quả
- Du kích đặt mìn
- Tình quân dân
- Mẹ Mão Lệ Sơn Lão dân quân
0 Nhận xét