THANG TRẦN PHỀNH

Ngay từ thuở bé, Thang Trần Phềnh đã có năng khiếu về vẽ. Khi học Trường Bưởi (Lycée du Protectorat), ông luôn đứng nhất môn hội họa. Không có thầy dạy, ông tự mày mò, nhìn thấy vật gì, hoặc người, hoặc cảnh đẹp, đều vẽ lại. Gia cảnh khó khăn, có ý thức tự lập rất sớm, Thang Trần Phềnh đã nảy ra ý định vẽ tranh bày bán trong hiệu buôn của cha mình. Những sáng tác mỹ thuật của ông từ rất sớm đã viễn du nơi xứ người và làm rạng danh nền văn hóa nước nhà… Cuộc đời của ông là một thế giới bí hiểm đầy khám phá thú vị, khám phá nó giúp bạn đọc có cái nhìn chung về thời kỳ đầu của nền hội họa Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.

Thang Trần Phềnh năm 15 tuổi đã vẽ bức tranh đầu tiên trong đời - một bức tranh thuốc nước mang tên Chùa Trấn Quốc trong buổi hoàng hôn, được bày ở Đấu xảo Mỹ thuật do Pháp năm nào cũng mở vào cuối năm. Ngày khai mạc bức tranh bán được ngay, “người mua được là ông Georges Bois, hỏi đến tận nhà đặt mua thêm hai bức nữa, yêu cầu vẽ đúng như bức ở Đấu xảo, khi bế mạc lấy về làm mẫu”. Các bức tranh của Thang Trần Phềnh ở thời kỳ mỹ thuật cận hiện đại (trước 1925) còn đến ngày nay hầu hết cũng đều là tranh thuốc nước.

Ở thời kỳ khởi động của nền mỹ thuật Việt Nam để chuẩn bị cho bước chuyển từ truyền thống sang hiện đại chỉ có ba họa sĩ: Lê Văn Miến, Thang Trần Phềnh và Nguyễn Nam Sơn. Họ chính là những người đầu tiên của một sơ kỳ hội họa trước khi hình thành và phát triển một nền hội họa có tác giả, mang tính chất quốc gia đầu tiên ở nước ta. Thang Trần Phềnh cũng được coi là họa sĩ đầu tiên vẽ tranh bằng chất liệu sơn dầu châu Âu, và sớm giành được sự công nhận rộng rãi, thậm chí là sự công nhận của cả giới trí thức, giới tinh hoa đương thời.

Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Thang Trần Phềnh mặc nhiên là một họa sĩ có bằng cấp, nhưng trên thực tế, ông vẫn chủ yếu vẽ tranh và thực hành trang trí sân khấu theo trực giác và một tính tự chủ hiếm có. Ngay trong hồi ký Thang Trần Phềnh viết, đoạn kể về cuộc gặp gỡ đầu tiên với ông Tardieu – người sáng lập trường mỹ thuật Đông Dương có chi tiết “…ông Tardieu ngạc nhiên phải thốt lên một câu, xin phép nhắc lại nguyên văn: “Tôi lấy làm lạ quá, một họa sĩ Việt Nam vẽ mà không nhìn vào đâu cả”. Sau này, ông Tardieu cũng là người ngỏ ý mời Thang Trần Phềnh về dạy vẽ ở Cao Miên, song ông từ chối vì khi ấy đương ấp ủ giấc mơ “thành lập ra một đoàn hát “đồng ấu”.

Năm 1931, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật rồi cùng năm anh em toàn là văn nghệ sĩ cũng ưa thích văn chương nghệ thuật, cùng nhau bỏ vốn mỗi cổ phần 300 đồng tìm đào kép lập ra gánh hát đặt tên là Nhật - Trương - Đình. Sau đó đem đi biểu diễn được vài ba nơi, "vì mới vì lạ, tiền thu cũng được khá để đủ chi phí ăn tiêu cho bõ lúc xoay xở mãi mới có tiền chung vốn. Của chung không ai xót, cứ ăn cứ tiêu đến khi cần tiền để phát triển nghệ thuật không ai chịu bỏ thêm vốn, rồi người giữ đạo cụ, phông cảnh, kẻ giữ quần áo mũ mãng không chia nhau, không trả cho nhau rồi đi đến thưa kiện nhau… thế là thất bại tan rã, mất cả".

Gánh hát Nhật – Trương – Đình tan rã, ông Trần Phềnh rút ra được kinh nghiệm, lại thành lập ra một đoàn hát “đồng ấu” không dùng người nhớn, hơn nữa không lấy người đã biết hát và đã ra sân khấu. "Đang làm công việc thì Giám đốc Trường Mỹ thuật (ông Tardieu) đến nói chuyện bổ đi dạy vẽ ở Cao Miên. Tất nhiên phải từ chối ngay và giãi bày lý do trước mắt". Về sau lúc đoàn ca kịch Đồng ấu của Thang Trần Phềnh diễn ở Hải Phòng, ông Tardieu xuống tận nơi ngồi xem hết buổi rồi nói: "Đời sống có thể đảm bảo hơn người về sẵn có khả năng nghệ thuật".

Sau đó, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, tản cư về Nhã Nam – Yên Thế (Bắc Giang), làm việc tại Sở Thông tin – Tuyên truyền Liên khu 10. Năm 1954, ông đưa gia đình trở về Hà Nội, cộng tác với rạp hát Chuông Vàng (Kim Phụng) cho đến năm 1963. Thời gian này, ông chuyên vẽ nghệ thuật sân khấu và vẽ phông rạp hát.

Thang Trần Phềnh là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1957. Ông sáng tác trên nhiều chất liệu, từ giấy, lụa, vải bố cho đến bút sắt, mực tàu, thuốc nước, bột màu, phấn tiên, sơn dầu… Tác phẩm hội họa của ông có thể nhiều hơn 100 bức, nhưng ngoài những bức thuộc sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và các bộ sưu tập tư nhân, gia đình không còn giữ lại bao nhiêu.

Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông luôn song hành giữa hai mảng trên cùng một lĩnh vực mỹ thuật. Một là, hội họa – sáng tác vẽ tranh. Hai là, sân khấu – thiết kế trang trí bối cảnh vở diễn. Riêng với sân khấu, ông không chỉ là người họa sĩ mỹ thuật, có thời gian dài còn kiêm cả tác giả, đạo diễn, nhà tổ chức quản lý, luôn tận tụy, dồn cả tâm lực và trí tuệ để sáng tạo cho phong cách thẩm mỹ của dân tộc.

Tác phẩm tiêu biểu:

Người tản cư bắt cua rất thạo(1948)


Phạm Ngũ Lão(1923)


Chân dung phụ nữ Lào(1925)


Lớp học thư pháp(1920)


Người bán lợn(1930)


Xem bói

Đăng nhận xét

0 Nhận xét