Tôn Đức Lượng là một họa sĩ sinh năm 1925 tại làng Đại Tráng, Bắc Ninh. Ông sinh ra trong một gia đình viên chức và từ nhỏ đã có năng khiếu về mĩ thuật. Vì muốn tránh việc trở thành người làm đầy tớ cho người Tây, ông đã quyết tâm theo đuổi ước mơ trở thành họa sĩ. Sau khi đỗ phần thi Tú tài phần thứ nhất, ông đã quyết định thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
Mặc dù không có kinh nghiệm học dự bị, Tôn Đức Lượng đã vượt qua các vòng thi để trở thành sinh viên khóa 18, khóa cuối cùng của trường. Cùng khóa với ông là các họa sĩ nổi tiếng sau này như Dương Bích Liên, Nguyễn Như Huân, Phan Kế An và nhiều người khác.
Sau này, ông mới biết rằng, nhận ra năng khiếu thiên bẩm của ông, các thầy trong Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã quyết định "phá lệ" để tuyển thêm 5 sinh viên nữa, tổng cộng là 15 người, thay vì chỉ tuyển 10 người như thông lệ. Điều này đã giúp Tôn Đức Lượng có cơ hội theo đuổi ước mơ của mình và trở thành một trong những họa sĩ tài ba của Việt Nam.
Dù chỉ được học tại trường có một năm nhưng Tôn Đức Lượng may mắn được sự chỉ dạy bởi họa sư Nam Sơn - người cùng với họa sĩ người Pháp Victo Tardieu đồng sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Trong ký ức của họa sĩ Tôn Đức Lượng, họa sư Nam Sơn là người rất kỹ lưỡng. Ông giảng cho sinh viên cặn kẽ về hình họa, bí quyết để luyện nghề. Không chỉ truyền dạy kiến thức, những buổi thầy trò cùng đạp xe từ Văn Miếu (Sơn Tây) là nơi học về thị xã, thầy Nam Sơn còn căn dặn, khuyên bảo Tôn Đức Lượng nhiều điều trong cuộc sống.
Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng và Phan Kế An là các họa sĩ đồng thời với Tôn Đức Lượng, đã trở thành những tên tuổi nổi tiếng trong làng hội họa Việt Nam. Tuy nhiên, Tôn Đức Lượng không có những tác phẩm nổi bật để ghi dấu tên tuổi của mình. Thay vào đó, ông đã tập trung vào việc ký họa và trực họa thực tế, ghi lại những khoảnh khắc trong cuộc sống của người dân trên nhiều con đường khác nhau trên toàn quốc.
Một trong những yếu tố tạo nên giá trị lớn của ký họa của Tôn Đức Lượng chính là ông may mắn được làm chứng nhân lịch sử cho hai cuộc kháng chiến. Cuộc đời ông đã hòa quyện cùng dòng chảy lịch sử của dân tộc. Ngoài đam mê hội họa, Tôn Đức Lượng còn là một cán bộ tiền khởi nghĩa, một trong những người đứng ra tổ chức cướp chính quyền tại tỉnh Sơn Tây và tham gia vẽ cờ đỏ sao vàng...
Năm 1946, ông là thành viên đội Công an mật của Nha Công an Trung ương, làm việc dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng Giám đốc Lê Giản. Một trong những nhiệm vụ của đội Công an mật khi đó là bí mật bảo vệ đồng chí Võ Nguyên Giáp từ nơi làm việc trong nội thành về nơi ở tại Cầu Mới, Hà Đông.
Sau Cách mạng Tháng 8, Tôn Đức Lượng nhanh chóng chọn đi theo cách mạng. Năm 1948, họa sĩ Tôn Đức Lượng công tác tại Trung ương Đoàn Thanh niên. Ông làm minh họa, trình bày báo của Trung ương Đoàn, báo Xung Phong, Sức Khỏe...
Năm 1953, họa sĩ Tôn Đức Lượng là một trong 6 người sáng lập tờ báo Tiền Phong và là người vẽ măng sét cho số báo đầu tiên. Ông cũng gắn bó với công việc họa sĩ minh họa báo cho đến khi nghỉ hưu.
Năm 1965, Tôn Đức Lượng bắt đầu tham gia làm đường tại Nghệ An cùng với Thanh niên xung phong Hà Nội và Hải Phòng. Sau đó, vào năm 1967, ông đã đến mỏ than Cồ Kênh, Hải Dương để vẽ tranh. Năm 1970, ông đã tham gia vẽ tranh tại Hà Tĩnh với Thanh niên xung phong mở đường. Trong khoảng thời gian từ 1971 đến 1972, ông đã tham gia vẽ tranh tại khu Kinh tế Thanh niên Phú Thọ. Cuối cùng, năm 1974, ông đã đến Nông trường bò Mộc Châu để vẽ tranh.
Bốn chuyến đi này đã tạo ra bốn bộ tranh ký họa bút sắt và màu nước. Hiện tại, vẫn còn khoảng 200 bức tranh được giữ lại, được vẽ theo phong cách nhật ký hoặc kể chuyện, mô tả tất cả các hoạt động của thanh niên trong cuộc sống hàng ngày, gần như không thiếu hình ảnh nào, mặc dù nhiều bức tranh đã bị thất lạc.
Với hơn mấy chục năm cầm cọ, Tôn Đức Lượng đã để lại gia tài hàng trăm bức ký họa lịch sử, nhiều tác phẩm sơn dầu, sơn mài, khắc gỗ và đặc biệt là những bức ký họa về thanh niên xung phong trong các thời kỳ kháng chiến từ chống Pháp đến chống Mỹ.
Ông chưa từng phàn nàn về cuộc sống, về sự không nổi tiếng của mình, và ngay cả khi trông thấy những bức tranh thất lạc không thuộc về mình nữa vẫn điềm đạm không vui hơn buồn hơn. Vẽ đối với ông là công việc yêu thích nhưng cũng coi như là lao động bình thường, cố gắng trung thực, không tô vẽ hay làm ra đặc biệt.
Tôn Đức Lượng được coi là tấm gương đáng nể của cán bộ văn nghệ siêng năng và đóng góp của ông đã tái hiện một quá khứ sống động và minh bạch. Nhà phê bình Nguyễn Quân đã đưa ra nhận xét rằng: "Tôn Đức Lượng đã hy sinh tính sáng tạo của mình và khiêm tốn tự nguyện trở thành một thư ký của thời đại".
Hàng trăm bức ký họa chủ yếu về đề tài thanh niên và cách mạng đã giúp công chúng nhận ra tài năng và niềm đam mê của ông với nghệ thuật, thanh niên và cách mạng.
Ông bám sát cuộc sống sản xuất và chiến đấu của các lớp thanh niên thời đại mình, không chỉ bởi ông là họa sĩ của Trung ương Đoàn mà còn vì ông yêu mến tuổi trẻ - những con người hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước giống như chính ông.
Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng đánh giá những ký họa lịch sử của Tôn Đức Lượng là một tư liệu quý giá "cho thấy những gương mặt lịch sử của người Việt Nam trong cuộc chiến".
0 Nhận xét