Năm 1939, Thanh Ngọc đã trúng tuyển vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và có cơ hội học tập cùng với Nguyễn Thị Kim - một nhà điêu khắc tài năng.
Họa sĩ Nam Sơn là một trong những người sáng lập Trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với họa sĩ người Pháp Tardieur. Ông đã phát hiện ra năng khiếu hội họa của Trần Thanh Ngọc và cô gọi ông là "cậu". Một lần đứng trên ban công cùng cháu gái, Nam Sơn vô tình chứng kiến khả năng vẽ sống động và chính xác của cháu khi vẽ một chuỗi hình ảnh một người đi xe đạp từ xa. Sự quan tâm và sự thú vị của Nam Sơn đã thúc đẩy ông xin phép Trần Ngọc Hậu để cho cháu học mỹ thuật. Tuy nhiên, tên của Trần Thanh Ngọc không có trong danh sách các học viên hoạ sĩ Việt Nam tại Trường Mỹ thuật Đông Dương. Lý do là bởi cô chỉ học trong một thời gian rất ngắn và chưa đạt được danh tiếng trong ngành, sau đó cô đã bỏ học để kết hôn khi mới 16 tuổi.
Trần Thanh Ngọc được xem là một trong những nữ họa sĩ tài ba của thế hệ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo đại học mỹ thuật, bà đã trở thành giảng viên tại trường đại học mỹ thuật công nghiệp Hà Nội và đảm nhiệm vai trò phó chủ nhiệm khoa đồ hoạ trong khoảng thời gian từ năm 1963 đến năm 1981. Trong suốt sự nghiệp của mình, bà đã được trao nhiều danh hiệu và huân chương, bao gồm: Nhà giáo Ưu tú, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục đào tạo, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam và Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng.
Sau khi về hưu, bà tiếp tục sáng tác và giúp đỡ phát triển nghệ thuật cho thế hệ trẻ tại khu phố (quận Hoàn Kiếm) và là thành viên tích cực của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Bà thường xuyên tổ chức triển lãm tranh thường niên của mình tại đây.
Khi còn là sinh viên, Thanh Ngọc đã phải đi thực tế rất nhiều để nghiên cứu và vẽ tranh. Những chuyến đi khắp đất nước kéo dài nhiều tháng đã mang đến cho bà nhiều ký hoạ đẹp mắt. Bằng nhiều loại bút như mực nho, bút sắt, than và nhiều loại giấy khác nhau, bà đã truyền tải cảm nhận về phong cảnh của những vùng quê thanh bình yên ả, miền sơn cước sơn thủy hữu tình. Ngoài ra, bằng sự giản dị, duyên dáng và tình cảm, bà đã tạo ra các ký hoạ chân dung cụ già, thiếu nữ và em bé giống như con người bà. Sau đó, bà đã tiếp tục học chuyên sâu về lụa và sơn mài để hoàn thiện kỹ năng của mình.
Trần Thanh Ngọc đã chăm chỉ học tập và trải nghiệm, dành tình cảm cho đồng bào quê hương, phụ nữ và cuộc sống lao động sản xuất tại Việt Nam. Bằng các bút như mực nho, bút sắt, than và nhiều loại giấy khác nhau, bà đã phác họa những cảnh đẹp của cuộc sống miền Bắc sau chiến tranh. Các tác phẩm của bà bao gồm tranh chuyên gia Liên Xô giúp đỡ xây dựng thủy điện Hoà Bình, tranh dân công chiến dịch Điện Biên Phủ được thực hiện trên chất liệu lụa, và những bức tranh sơn dầu tươi sáng và thấm đượm tình cảm như Vườn Đại Phong - một tác phẩm đẹp như người mẹ.
Bà Trần Thanh Ngọc sử dụng nhiều chất liệu khác nhau để tạo ra tác phẩm của mình, chủ yếu là sơn mài và lụa. Bà đã được vinh danh với nhiều giải thưởng quan trọng, bao gồm Giải Ba tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1960, Giải Nhì tại Triển lãm Mỹ thuật Thủ đô năm 1983, Giải Nhì tại Triển lãm về đề tài Lực lượng vũ trang và Chiến tranh cách mạng năm 1985, Giải tặng thưởng Khu vực I (Hà Nội) của Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 1999 và Giải thưởng Mỹ thuật Hội viên cao tuổi của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1997.
Năm 2001, Trần Thanh Ngọc được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I cho các tác phẩm, bao gồm Dân công chiến dịch Điện Biên Phủ - lụa (1974), Vườn Đại Phong - Sơn mài - 80x110cm (1962), Bác Hồ - Lụa - 60x90cm (1984), Phố Cao Bằng - Lụa - 60x90cm (1990), Nhà Bác Hồ trong kháng chiến - Sơn mài - 80x110cm (1984), Câu lạc bộ thiếu nhi - Sơn khắc - 80x100cm (1997) và Chùa Kim Liên - Lụa - 58x75cm (1998). Các tác phẩm của bà đang được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Trần Thanh Ngọc có đóng góp quan trọng cho nghệ thuật và văn hóa Việt Nam, đồng thời cống hiến cho việc giáo dục và đào tạo đội ngũ họa sĩ trong nước. Vào lúc 1h58 sáng ngày 20 tháng 12 năm 2017 (tức ngày 3 tháng 11 năm Đinh Dậu), bà qua đời an nhàn tại nhà vì tuổi cao. Lễ tang được tổ chức trọng thể tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Tác phẩm tiêu biểu:
Chiến thắng đường 9(1974)
Chân dung cháu Sơn(1970)
Hợp tác xã đánh cá về(1960)
Vụ đông(2002)

0 Nhận xét