Văn Cao đã tham gia vào nhóm Đồng Vọng, sáng tác những bài hát lãng mạn như Bến xuân, Suối mơ, Thiên Thai, Trương Chi và để lại dấu ấn trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. Sau khi gia nhập Việt Minh, ông đã sáng tác Tiến quân ca, Trường ca Sông Lô, Tiến về Hà Nội... và trở thành một nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến.Tuy nhiên, sau sự kiện Nhân Văn - Giai Phẩm, Văn Cao đã phải tham gia học tập chính trị. Ngoài Tiến quân ca, các ca khúc và nhạc phẩm tiền chiến khác của ông không được phát hành ở miền Bắc. Cho đến cuối những năm 1980, các tác phẩm này mới được tái hiện trên sân khấu.
Nguyễn Văn Cao, tên thật của nhạc sĩ Văn Cao, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray, Hải Phòng, nhưng quê gốc của ông là ở thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông sinh ra trong một gia đình có cha là giám đốc nhà máy nước Hải Phòng. Ông bắt đầu học tập tại trường Bonnal và sau đó tiếp tục học trung học tại trường dòng Saint Josef, nơi ông phát triển sự yêu thích âm nhạc. Năm 1938, khi mới 15 tuổi, do gia đình đối mặt với khó khăn, ông phải rời trường sau khi hoàn thành năm thứ hai trung học. Sau đó, ông làm điện thoại viên tại sở Bưu điện Hải Phòng, tuy nhiên chỉ làm được một tháng.
Vào năm 1942, sau lời khuyên của Phạm Duy, Văn Cao đã đến Hà Nội và thuê một căn gác nhỏ tại số 171 phố Mongrant (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền) để học tập tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Bên cạnh việc học, ông còn viết truyện và thơ, được đăng trên tạp chí Tiểu thuyết Thứ Bảy. Trong hai năm 1943 và 1944, ông tham gia triển lãm Salon Unique tại nhà Khai trí Tiến Đức, Hà Nội, với các bức tranh sơn dầu như Cô gái dạy thì, Sám hối và Nửa đêm. Tranh Le Bal aux suicidés (Cuộc khiêu vũ của những người tự tử) của ông được đánh giá cao và nhận được sự chú ý từ công chúng. Tuy nhiên, các tác phẩm của ông không được bán ra ngoài. Trong những thời gian khó khăn tại Hà Nội, ông đã phải đứng bán các tác phẩm của mình trên các con phố của Hà Nội và Hải Phòng cùng với các bạn của mình.
Vào cuối năm 1944, Văn Cao tái ngộ với Vũ Quý - một thành viên của Việt Minh mà ông đã từng gặp trước đó. Vũ Quý thuyết phục ông tham gia vào Việt Minh, với nhiệm vụ đầu tiên là sáng tác một bài hát. Văn Cao đã dành nhiều ngày để sáng tác bài hát này tại căn gác nhỏ ở số 171 phố Mongrant và đặt cho nó cái tên "Tiến quân ca". Bài hát này đã được đăng trên trang văn nghệ của báo Độc Lập vào tháng 11 năm 1944. Vào ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ Tịch đã chính thức thông qua quyết định về việc sử dụng Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau đó, Văn Cao tiếp tục tham gia hoạt động cùng Việt Minh. Văn Cao đã tham gia hoạt động in ấn cho cơ quan Phan Chu Trinh, sản xuất sách báo và phát tán truyền đơn. Vào đầu năm 1945, ông tham gia vào vụ ám sát ông Đỗ Đức Phin ở Hải Phòng, một vụ việc nổi tiếng và ông bị Việt Minh kết án là Việt gian thân Nhật. Sau vụ ám sát, ông phải tạm rời đi để tránh sự theo dõi của các tay mật thám Pháp và Nhật. Trở về Hà Nội, ông còn tham gia vào vụ ám sát Cung Đình Vận tại gần rạp hát cuối phố Huế, tuy nhiên không thành công do ông bắn trượt.
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 kết thúc, Văn Cao đã trở thành một phóng viên và viết báo cho tờ Lao Động. Năm 1946, ông được đi cùng Hà Đăng Ấn vận chuyển vũ khí và tiền vào mặt trận Nam Bộ. Sau đó, Văn Cao được mời tham gia Hội Văn hoá Cứu quốc và được bầu làm Uỷ viên Chấp hành. Ông tham gia hoạt động tại liên khu III, phụ trách tổ điều tra của công an Liên khu và viết cho báo Độc Lập. Đầu năm 1947, ông được giao trách nhiệm phụ trách một bộ phận điều tra đặc biệt của công an Liên khu 10 tại biên giới phía bắc. Tại đây, ông được giao nhiệm vụ kết nghĩa với vua Mèo để lập ra một phòng tuyến bảo mật chống lại sự xâm nhập của quân Tưởng khi thất bại. Ông cũng mở một quán bar tại Lào Cai để làm địa điểm theo dõi. Vào tháng 3 năm 1948, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Vào cuối năm 1949, ông từ bỏ công việc làm báo Văn Nghệ để chuyển sang phụ trách Đoàn Nhạc sĩ Việt Nam. Trong thời kỳ này, ông tiếp tục sáng tác nhiều ca khúc nổi tiếng khác như Làng tôi (1947), Ngày mùa (1948), Tiến về Hà Nội (1949) và đặc biệt là Trường ca Sông Lô vào năm 1947.
Sau khi đi nghiên cứu về âm nhạc tại Liên Xô vào năm 1952, Văn Cao trở về Hà Nội sau khi Hiệp định Geneva được ký kết vào năm 1954 và được tuyển dụng làm việc cho Đài Phát thanh. Tuy nhiên, ông không sản xuất nhiều tác phẩm trong thời gian này. Đến năm 1955, ông bắt đầu viết bài cho đặc san Giai Phẩm.
Giống như các nghệ sĩ khác trong nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, Văn Cao bắt đầu học tập chính trị vào tháng 7 năm 1958, mặc dù đã muộn hơn một chút so với các đồng nghiệp khác. Tên tuổi của ông ít khi được đề cập trên các tạp chí văn nghệ ở Hà Nội. Trong những năm tiếp theo, ông tham gia vào nhiều dự án khác nhau, bao gồm viết nhạc không lời cho các phim và kịch, thiết kế sân khấu cho các đoàn kịch, vẽ quảng cáo cho các tờ báo, và vẽ nhãn diêm. Các tác phẩm của ông, cũng như các ca khúc lãng mạn tiền chiến khác, không được trình diễn ở miền Bắc, trừ bài quốc ca. Trong thời gian này, ông không sáng tác nhiều. Vào cuối năm 1975, ông sáng tác ca khúc Mùa xuân đầu tiên, tuy nhiên bài hát này bị chỉ trích là không tuân thủ đường lối của Đảng và không phục vụ cho Cách mạng. Bản nhạc mới phát hành đã bị tịch thu. Tuy nhiên, các chương trình Việt ngữ tại Moskva vẫn trình diễn ca khúc này, giúp cho Mùa xuân đầu tiên không bị lãng quên.
Năm 1981, Việt Nam tổ chức cuộc thi sáng tác quốc ca trên toàn quốc, tuy nhiên kết quả không được công bố và sau đó không đề cập đến cuộc thi nữa. Tiến quân ca vẫn được sử dụng như là quốc ca của Việt Nam. Cho đến cuối thập niên 1980, nhờ vào chính sách Đổi mới của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, các tác phẩm của Văn Cao cùng với những nhạc sĩ tiền chiến khác đã được biểu diễn trở lại.
Vào ngày 10 tháng 7 năm 1995, sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư phổi, Văn Cao đã từ trần tại bệnh viện Hữu Nghị ở Hà Nội.
Năm 1996, một năm sau khi mất, Văn Cao được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt trao giải đầu tiên và được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Độc lập hạng nhất. Tên ông cũng được đặt cho nhiều con phố đẹp ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Nam Định.
Tác phẩm tiêu biểu:
Chân dung bà Băng
Nhà văn Đặng Thai Mai
Cô gái và đàn dương cầm
Dân công miền núi
0 Nhận xét