Trần Phúc Duyên sinh ngày 16 tháng 02 năm 1923 tại Hà Nội. Bố ông là Trần Diễn Giệm và mẹ là Nguyễn Thị Thược. Quê nội của ông ở làng Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Tây, còn quê ngoại ở làng Bạch Mai, Hà Nội.
Trần Phúc Duyên sinh ra trong một gia đình có 6 người con và ông là con áp út trong gia đình. Thứ tự các anh chị em trong gia đình như sau: Trần Phúc Chí, Trần Thị Tuệ, Trần Thị Viên, Trần Phúc Tài, Trần Phúc Duyên và Trần Phúc Trường. Sau năm 1954, 3 người định cư tại Pháp, 3 người còn lại tiếp tục ở tại Việt Nam.
Trần Phúc Duyên là người yêu thích hội hoạ từ bé, ông quyết tâm theo nghề vẽ mặc dù không hoàn toàn nhận được sự đồng thuận và ủng hộ từ gia đình. Ông thi đỗ vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương chuyên khoa Sơn mài năm 1942 (Khoá 16) cùng với Quang Phòng, Đinh Minh, Cao Xuân Hùng, Lê Phả, Nguyễn Văn Thanh, Phan Thông và Võ Lang. Khoá của ông không có cơ hội hoàn thành hết chương trình học 5 năm vì trường phải đóng cửa năm 1945, sau ngày Nhật đảo chính Pháp.
Trong những năm 1945 – 1954, ông sống và sáng tác tại Hà Nội. Xưởng vẽ của ông đặt tại số 146 Avenue de Grand Buddha – nay là đường Quán Thánh. Theo những ghi chép cá nhân của chính Trần Phúc Duyên, trong khoảng thời gian này, ông đã nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các gia đình tư sản trong nước, các quan chức Pháp tại Việt Nam cũng như các công ty tư nhân. Năm 1950, 3 tác phẩm sơn mài của ông – trong đó có một bức bình phong 6 tấm vẽ phong cảnh Sài Sơn – Chùa Thầy đã được chọn để gửi sang Vatican làm quà mừng Giáo Hoàng Pius và được lưu giữ tại bảo tàng Vatican.
Trong thời gian sống tại Hà Nội, ông là bạn thân thiết với rất nhiều hoạ sỹ đương thời như Nguyễn Tiến Chung, Bùi Xuân Phái, Tạ Tỵ, Đinh Minh. Đặc biệt, do có một thời gian làm việc và đi vẽ thực tế nhiều với Nguyễn Tiến Chung nên sau này ta có thể nhận thấy những ảnh hưởng của Nguyễn Tiến Chung trên mốt số tác phẩm của Trần Phúc Duyên, đặc biệt là các tác phẩm sơn mài với đề tài thiếu nữ.
Năm 1954, ông cùng anh trai Trần Phúc Chí và em trai Trần Phúc Tường di cư sang Pháp. Ông tiếp tục theo đuổi nghiệp vẽ và dành nhiều thời gian đến học vẽ tại xưởng vẽ của hoạ sỹ Jean Soverbie (1891 – 1981) tại Trường Nghệ thuật Paris (Ecole des beaux Arts Paris). Ở Paris, ông vẫn quyết tâm vẽ tranh sơn mài mặc dù rất khó khăn để có thể tìm được nguyên vật liệu và tạo được điều kiện khí hậu hợp lý cho sơn mài. Ông đã tìm tòi, nghiên cứu và tìm ra những cách vẽ sơn mài mới với các vật liệu có tại Châu Âu. Triển lãm năm 1961 tại Nice của ông với 20 bức tranh sơn mài và 20 bức tranh lụa đánh dấu sự trở lại với hội hoạ của ông tại Pháp.
Từ năm 1961 đến 1968, ông có thêm 4 triển lãm cá nhân tại Tây Ban Nha (1964 ) và Thuỵ Sỹ (1965, 1966, 1967). Năm 1968, ông đã quyết định chuyển sang Thuỵ Sỹ. Ông có 12 triển lãm cá nhân từ năm 1968 đến năm 1993 bao gồm một triển lãm tại Pháp năm 1970, một triển lãm tại Canada năm 1975 và nhiều triển lãm tại Thuỵ Sỹ năm 1971, 1973 (3 lần), 1976 (2 lần), 1978, 1979, 1983 và 1989. Những năm cuối đời, Trần Phúc Duyên dành nhiều thời gian thiền tập và tranh ông chuyển dần sang sơn mài thuỷ mặc và trừu tượng với một lối vẽ tối giản, vô vi. Các tác phẩm thời kỳ này toát lên tinh thần Phật giáo, với cảm xúc tự tại, an lòng và bình yên.
Các thời kỳ sáng tác của Trần Phúc Duyên có thể chia ra làm ba giai đoạn chính: 1945 – 1954: Sơn mài đồng nhất; 1954 đến cuối những năm 1970: Sơn mài sáng; và từ cuối những năm 1970 đến năm 1993: Sơn mài thủy mặc. Sống và sáng tác ở nước ngoài trong nhiều năm, nhưng các đề tài yêu thích của ông luôn là các đề tài Việt Nam, đặc biệt là phong cảnh Bắc bộ và trung du, các cô gái tân thời Việt Nam trong những tà áo dài đằm thắm. Vào những năm cuối đời ông đưa bút pháp thủy mặc vào nghệ thuật sơn mài và sáng tác nhiều những bức tranh trừu tượng.
Trần Phúc Duyên rời Việt Nam năm 1954 và kể từ đó ông chưa bao giờ có dịp quay trở lại quê hương. Các bạn và gia đình ông tại Pháp cho biết, ông ít khi nói về Việt Nam nhưng có lẽ đây là cách ông tự bảo vệ mình khỏi một nỗi đau giằng xé. Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông có thể được gói gọn trong hai từ Việt Nam với hình ảnh quê hương và con người Việt Nam, lúc thật lúc ảo nhưng luôn luôn hiện hữu. Nỗi nhớ quê hương bản xứ hiển hiện trên tranh của ông lảng bảng như sương khói. Quê hương như một cõi thần tiên, một miền cực lạc, nơi mà ông luôn tìm về để tiếp nhận nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận.
Ông mất vào ngày 09 tháng 09 năm 1993, năm ông tròn 70 tuổi.
Tác phẩm tiêu biểu:
Bóng nước
Hòa Ân 3
Đường vào thôn
Sứ giả
Mặt trời của đêm
Phong cảnh mạn ngược
Phong cảnh Trung du
Sự im lặng của đêm
Trăng đêm
Vịnh Hạ Long
Văn Miếu(1946)

0 Nhận xét