MAI VĂN HIẾN

Mai Văn Hiến sinh năm 1923 tại Mỹ Tho, Tiền Giang. Ông yêu hội họa từ nhỏ, và thế là lặn lội ra tận Hà Nội, học tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từ năm 1943 đến năm 1945. Rồi từ ngôi trường ấy, như bao họa sĩ khác hăm hở dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp, bảo vệ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ, Mai Văn Hiến tự nguyện đem tuổi trẻ và tài năng của mình phục vụ cách mạng.

Cùng với Nguyễn Sáng, Nguyễn Huyến,… ông là người tham gia vẽ mẫu tiền đầu tiên cho ngân hàng nhà nước trong thời kỳ đầu mới thành lập. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Mai Văn Hiến gia nhập quân đội, là chiến sĩ và họa sĩ. Ông vẽ minh họa, trình bày hai tờ báo Vệ quốc quân và Quân đội Nhân dân.

Trong những ngày trước Cách mạng Tháng Tám, khoa Hội họa của trường Mỹ thuật Đông Dương đã phải sơ tán đến Sơn Tây. Tại đây, nghệ sĩ Mai Văn Hiến cũng đến và tham gia vào hoạt động Cách mạng của tổ chức Sinh viên Cứu quốc - thành viên của tổ chức Thanh niên Cứu Quốc. Trong thời gian này, ông cùng với các nghệ sĩ mỹ thuật khác như Phan Kế An, Lê Phả, Kim Đồng, Phan Thông, Mai Văn Nam, Vĩnh Noãn... đã tích cực hoạt động trong tổ chức Sinh viên Cứu quốc. Họ tổ chức tập hợp nhân dân địa phương bằng các hoạt động như học võ, hát các bài hát yêu nước, triển lãm hội họa và tuyên truyền chống thực dân và phát xít.

Cách mạng Tháng Tám thành công, tiếp đến Toàn quốc kháng chiến, nghe theo tiếng gọi cứu nước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chàng thanh niên nghệ sĩ-trí thức Mai Văn Hiến hào hứng khoác balô gia nhập Đoàn quân Văn hóa kháng chiến.

Ông vào bộ đội, vẽ tranh tuyên truyền-cổ động, làm báo, trực tiếp tham gia đơn vị chiến đấu, đi nhiều chiến trường, chiến dịch, từ đồng bằng, trung du đến miền núi Đông Bắc, Tây Bắc, đặc biệt là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Tại chiến trường Điện Biên Phủ, ông đã vẽ những bức tranh cổ động cỡ lớn, tuyên truyền địch vận, kêu gọi lính Âu-Phi ra hàng.
Từ các chiến dịch Đông bắc, Tây bắc, qua Thượng Lào… đến Điện Biên Phủ, ông vẽ hàng trăm ký họa. Năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi. Ngày 5-10- 1954, Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc tổ chức triển lãm 154 tác phẩm, như một sự tổng kết thời kỳ mỹ thuật kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Giải thưởng lớn dành cho Tô Ngọc Vân với toàn bộ tác phẩm và ký họa về nông thôn Tây Bắc. Giải thưởng chính thức thuộc về Nguyễn Sáng với tác phẩm Chợ Bo (1953) và Giặc đốt làng tôi (1954), Mai Văn Hiến với tác phẩm Gặp gỡ (1954) và các ký họa về bộ đội…, cùng nhiều họa sĩ khác nữa.

Mai Văn Hiến là một tên tuổi sáng giá của mỹ thuật thời kỳ kháng chiến 1945-1954, một trong những người đặt nền móng cho nền nghệ thuật hiện thực cách mạng, đồng thời mở đầu cho một xu hướng nghệ thuật chính thống, là xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa – như sau này các nhà nghiên cứu mỹ thuật đánh giá.

Tác phẩm của Mai Văn Hiến còn lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như: Gặp gỡ (bột mầu); Những lời dạy bảo (sơn dầu); Hoa doanh trại (sơn dầu); Du kích Đông Bắc (sơn dầu); Anh bộ đội cụ Hồ và nhân dân Tây bắc; Bướm dọc đường (sơn dầu)… đều là những tác phẩm mang đậm tính cách ông, giản dị, mầu sắc nhẹ nhàng, tươi sáng, như ẩn chứa một nụ cười yêu đời và hóm hỉnh.

Ông vẽ không nhiều lắm, nhưng chỉ với những tác phẩm đã kể ở trên, ông vẫn luôn luôn là một họa sĩ hàng đầu của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Suốt gần 20 năm làm công tác Hội, là uỷ viên thường trực, Trưởng Ban đối ngoại Hội mỹ thuật Việt Nam, ông là cây bút vẽ quen thuộc cho nhiều báo.

Sinh ra ở tận Mỹ Tho nhưng từ hơn 60 năm nay gắn bó với Hà Nội, họa sĩ Mai Văn Hiến đã là một hình ảnh rất đẹp của làng hội họa đất Thăng Long. Ông đã dời căn phòng bé nhỏ, bừa bộn của ông ở phố Nguyễn Thái Học, trong số nhà có rất nhiều họa sĩ, để đi về cõi khác. Trong căn phòng của ông chẳng có đồ đạc gì, chiếc bếp điện cũ từ thời bao cấp – dấu vết còn lại của thời làm công tác đối ngoại, chỉ còn những phác thảo cũ. Ông đã đi, chỉ nụ cười hóm hỉnh của ông là còn mãi trong lòng những ai từng biết ông và nhớ về ông. Bao giờ cũng vậy, khi những con người như họa sĩ Mai Văn Hiến ra đi vào cõi vĩnh hằng, họ luôn khiến chúng ta thực sự cảm thấy trên mặt đất này đã trống vắng đi cả một phần cuộc đời của mình nữa.

Tác phẩm tiêu biểu:

Bác Hồ ở Pác Bó(1990)

Tiếng hát mùa chiến dịch(1994)

Bộ đội và dân công Đông Bắc(1999)

Mẹ con(1995)

Chú học sinh(1996)

Hoa doanh trại(1956)

Sương tan(1992)

Trăng non(1980)

Anh bộ đội Cụ Hồ với nhân dân Tây Bắc(1998)


Đăng nhận xét

0 Nhận xét