LÊ THỊ LỰU

Lê Thị Lựu sinh năm 1911 tại Hà Nội, là một trong những nữ họa sĩ đầu tiên của Việt Nam được đào tạo chính quy về nghệ thuật. Năm 1926, bà quyết định thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thay vì trường Nữ sinh Đồng Khánh nơi hai chị gái bà đã học. Có hai sự cố dẫn đến quyết định của cô. Đầu tiên là khi cô ấy nhìn thấy một bức tranh lớn và đẹp vẽ một cô gái Lào, mà giáo viên của cô ấy giải thích rằng bức tranh này đã được "phóng to" từ một cuốn sách. Khi cô hỏi liệu cô có thể học vẽ như vậy không, cô giáo giới thiệu cô đến một trường nghệ thuật nơi có một nghệ sĩ tài năng tên là Thục. Sự cố thứ hai xảy ra khi cô đến thăm một người bạn có bố là chủ một rạp hát. Lê Thị Lựu ấn tượng với kỹ thuật vẽ chấm bi được sử dụng để tạo phông nền cho nhà hát,

Trước kỳ thi tuyển sinh, Lê Thị Lựu mua cuốn sách vẽ phối cảnh duy nhất về tự học vẽ. Cô cũng nhờ một người họ hàng nam tên Phèo làm mẫu cho để tập vẽ. Sau khi thi, cô đứng thứ mười ba và được xếp vào lớp dự bị vì trường chỉ nhận mười học sinh. Tuy nhiên, chỉ một năm sau, năm 1927, bà thi đỗ vào lớp mỹ thuật năm thứ ba Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng với Trần Quang Trân và Nguyễn Gia Trí. Mới 16 tuổi, Lê Thị Lựu đã là một trong số ít nữ họa sĩ của trường. Cô phải đối mặt với sự phản đối từ cha mẹ, xã hội và bạn học. Là một thực tập sinh mới tại trường, cô phải thuyết phục gia đình cho mình tham gia lớp học vẽ cuộc sống dành cho nam khỏa thân. Các bạn nam của cô ghen tị với thành tích học tập của cô, đến mức có người thậm chí còn bôi xấu hoặc xóa tranh của cô ấy. Mặc dù vậy, trong 5 năm học, em học giỏi môn nào cũng vượt trội so với các bạn cùng trang lứa. Cô cũng trở thành bạn với những học sinh giỏi nhất của trường, bao gồm Mai Trung Thứ, Lê Phổ và Vũ Cao Đàm, cũng như hiệu trưởng của trường, Tardieu. Năm 1932, Lê Thị Lựu trở thành nữ họa sĩ đầu tiên tốt nghiệp loại xuất sắc tại trường.

Bà là một trong những họa sĩ tiêu biểu của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam và để thu lại nhiều tác phẩm đáng giá. Ngoài công việc là một họa sĩ, bà còn có nhiều đóng góp khác trong lĩnh vực giáo dục và phong trào cách mạng tại Việt Nam. Bức tranh Tam đại đồng đường được xem như tác phẩm cuối cùng của bà, cho thấy sự kiên định và đam mê của bà trong nghệ thuật, và trở thành biểu tượng cho sự nghiệp của một trong những nữ họa sĩ vĩ đại nhất của Việt Nam.

Năm 1925, Lê Thị Lựu thi đỗ Tiểu học, nhưng thay vì vào học trường Nữ sinh Đồng Khánh (tiền thân của trường Trưng Vương) như hai chị, Lê Thị Lựu lại thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Nghệ thuật năm 1926. Theo lời kể của Lựu, có hai sự cố dẫn đến quyết định này: thứ nhất là khi cô sắp xếp lại sách vở cho cô giáo và bị ấn tượng bởi bức vẽ một cô gái Lào xinh đẹp và to lớn. Giáo viên của cô ấy giải thích rằng đó là một bức ảnh "phóng to" từ một cuốn sách. Khi Lựu hỏi cô có thể học môn này không, cô giáo giới thiệu cô đến một trường Mỹ thuật, nơi có một nghệ sĩ lành nghề tên là Thục. Sự cố thứ hai là khi cô đến thăm một người bạn có bố là chủ một rạp hát, và cô bị thuyết phục bởi cách một họa sĩ thêm các dấu chấm để tạo phông nền cho nhà hát. Bằng cách bôi sơn lên vải thô theo một cách nhất định, hình ảnh không thể nhìn thấy ở gần nhưng nhìn từ xa thì đẹp.

Sau khi tốt nghiệp, Lê Thị Lựu trở về Hà Nội và làm việc cho Viện Pháp học Đông Dương, nơi bà thiết kế các bức tranh cửa kính cho các nhà thờ và các dinh thự. Năm 1934, bà được cử sang Paris để học tập và trở thành nữ họa sĩ Việt Nam đầu tiên được đào tạo chuyên nghiệp tại Châu Âu. Tại Paris, bà học tại École des Beaux-Arts và Académie Colarossi. Bà đã được sự hướng dẫn của nhiều họa sĩ danh tiếng như André Lhote, Fernand Léger, Albert Marquet và Henri Matisse.

Sau khi trở về Việt Nam vào năm 1940, bà tiếp tục làm việc cho Viện Pháp học Đông Dương và thiết kế nhiều bức tranh cửa kính cho các tòa nhà quan trọng. Năm 1945, khi Việt Nam giành được độc lập, bà trở thành giáo viên Trường Mỹ thuật Việt Nam và giám đốc Trường Mỹ thuật Nam Định. Bà cũng là thành viên sáng lập của Hội Mỹ thuật Việt Nam và giữ chức vụ Phó chủ tịch đầu tiên của Hội.

Lê Thị Lựu được xem là một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam và đóng góp rất nhiều cho việc phát triển ngành mỹ thuật Việt Nam. Bà đã có nhiều triển lãm cá nhân và tham gia nhiều triển lãm nghệ thuật quốc tế. Nhiều tác phẩm của bà được trưng bày tại các bảo tàng nghệ thuật lớn trên thế giới. Tác phẩm nổi tiếng của bà bao gồm bức tranh cửa kính ở Nhà Lớn thờ Hà Nội, bức tranh ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam và bức tranh ở Tòa Thị chính thành phố Hà Nội.

Lê Thị Lựu trở về Hà Nội và được tuyển dụng làm giảng viên tại Trường Mỹ thuật Đông Dương. Bà cũng tiếp tục thực hiện các dự án hội họa và trang trí cho các nhà thờ, tòa nhà và khách sạn.

Năm 1937, bà tham gia triển lãm hội họa nghệ thuật quốc tế tại Paris, Pháp, là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên được triển lãm tại Châu Âu. Trong triển lãm này, bức tranh "Lúa chín" của bà đã được trưng bày và nhận được sự đánh giá cao từ các chuyên gia nghệ thuật.

Sau đó, Lê Thị Lựu tiếp tục tham gia nhiều triển lãm hội họa quốc tế khác tại Châu Âu và Châu Á, và nhận được nhiều phần thưởng nhờ tài năng của mình. Bà đóng góp cho hội họa Việt Nam bằng cách sáng lập câu lạc bộ mỹ thuật Phù Đổng Thiên Vương, giúp nền tảng khuyến khích và phát triển nghệ thuật cũng như cho các họa sĩ trẻ.

Lê Thị Lựu đã để lại một di sản văn hóa lớn cho Việt Nam với những bức tranh sơn dầu tuyệt đẹp của mình, được coi là một trong những nghệ sĩ hội họa hàng đầu của nước ta. Bà đã qua đời vào ngày 10 tháng 3 năm 1988 tại Hà Nội, nhưng tài năng và tác phẩm của bà vẫn được tôn vinh và trân trọng cho đến ngày nay.

Trường phái sáng tác của Lê Thị Lựu được coi là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, với sự ảnh hưởng từ các trường phái nghệ thuật phương Tây như Ấn tượng, Hậu ấn tượng, Biểu hiện và Fauvism. Tuy nhiên, bà cũng giữ lại nhiều đặc trưng của nghệ thuật dân gian Việt Nam, như các đường cong, họa tiết, và màu sắc tươi sáng.

Trong các tác phẩm của mình, Lê Thị Lựu thường sử dụng các chất liệu đa dạng như màu nước, sơn dầu và bút lông để tạo nên những tác phẩm đa dạng về hình thức và màu sắc. Bà thường tập trung vào các chủ đề như cảnh quan, con người, văn hóa dân tộc và tạo ra các tác phẩm độc đáo với phong cách riêng.

Một số tác phẩm nổi tiếng của Lê Thị Lựu bao gồm "Cô gái Lào", "Người đàn bà ngồi ghế", "Nét đẹp đồng quê" và "Đàn bà trong rừng". Các tác phẩm này đã được trưng bày tại nhiều triển lãm nghệ thuật ở Việt Nam và nước ngoài, và đánh lại cho bà nhiều giải thưởng và danh tiếng trong giới nghệ sĩ.

Gia đình của Lê Thị Lựu gồm có cha mẹ và một em gái. Cha của bà là ông Lê Văn Truông, một nông dân có tiếng ở làng Xuân Dục, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là người có nhiều tài năng, từng làm nghề chữa bệnh, trồng rau, nuôi cá, sản xuất nam dược và làm thơ. Mẹ của bà là bà Trần Thị Đức, người có ngoại hình xinh đẹp và tinh thần cởi mở. Bà có một em gái tên là Lê Thị Luân. Sau khi Lê Thị Lựu tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương, cha bà phản đối bà theo đuổi sự nghiệp hội họa và muốn bà lấy chồng. Tuy nhiên, chị đã quyết định tiếp tục theo đuổi đam mê của mình và rời Hà Nội để vào Sài Gòn. Tại đây, bà đã gặp và kết hôn với ông Nguyễn Nam Sơn, một họa sĩ nổi tiếng cùng thời với bà. Hai người có ba đứa con bao gồm hai con trai và một con gái. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân của họ không được viên mãn và họ dị thường.

Lê Thị Lựu là một họa sĩ với rất nhiều tài năng và đã để lại nhiều tác phẩm đáng chú ý. Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu của bà:
"Hoa Sữa" - Bức tranh vải trên vải kích thước 116cm x 81cm được vẽ vào năm 1938. Bức tranh này nổi tiếng với sắc màu tươi sáng, động cơ và khả năng tái hiện chân thực của hoa sữa.
"Gánh hàng hoa" - Bức tranh vải trên vải vẽ năm 1943, kích thước 135cm x 105cm. Bức tranh này miêu tả một người phụ nữ đang mang một gánh hàng hoa trên vai trên nền đen. Tác phẩm này được chọn là biểu tượng cho những người phụ nữ chịu đựng những đau đớn và cực khổ trong cuộc sống.
"Phong cảnh Huế" - Tranh vải trên vải vẽ năm 1942, kích thước 92cm x 73cm. Bức tranh này miêu tả cảnh quang Huế với màu sắc tươi sáng và tràn đầy sức sống.
"Phong cảnh rừng" - Bức tranh dầu trên vải vẽ vào năm 1939, kích thước 64cm x 54cm. Bức tranh này thể hiện tính tế và khả năng hóa hồn vào cảnh vật.

Ngoài ra, Lê Thị Lựu còn để lại rất nhiều tác phẩm khác, đặc biệt là những bức tranh vẽ phong cảnh và hoa quả, cùng những bức vẽ chân dung độc đáo. Các tác phẩm của bà đã được trưng bày tạ Lê Thị Lựu để lại một di sản văn hóa và nghệ thuật đáng kính. Các tác phẩm của bà hiện được lưu giữ trong nhiều bộ sưu tập tại Việt Nam và nước ngoài, bao gồm Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Viện Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia Singapore, Bảo tàng Victoria và Albert ở Luân Đôn, và Bảo tàng viện quốc gia Bangkok, Thái Lan.

Nhiều tác phẩm của bà đã được trưng bày tại các triển lãm nghệ thuật tại Việt Nam, Châu Á và các nước phương Tây. Vào năm 2000, một triển lãm tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã giới thiệu hơn 100 tác phẩm của bà, với chủ đề "Một đời chống lại nhịp sống".

Năm 2018, bức tranh "Trường đua" của Lê Thị Lựu đã lập kỷ lục giá bán đấu giá tại Việt Nam khi được bán với giá hơn 3,1 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's ở Hồng Kông. Ngoài ra, Lê Thị Lựu còn để lại di sản văn hóa qua con cái và học trò. Con gái bà, Lê Thị Hồng Gấm, là một nghệ sĩ nhảy hàng đầu tại Việt Nam. Bà cũng từng giảng dạy tại trường Mỹ thuật Sài Gòn và có nhiều học trò nổi tiếng như Trần Văn Cẩn, Nguyễn Thanh Châu, Nguyễn Tư Nghiêm.

Tổng thống nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã phong tặng Bà danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú của dân tộc vào năm 2008, Khuyến khích vinh danh những người đóng góp của Lê Thị Lựu cho văn hóa và nghệ thuật Việt Nam. Và nhiều triển lãm nghệ thuật và được đánh giá cao bởi cộng đồng nghệ thuật.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét