Vào năm 1945, ông trở thành thành viên Ban Chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc, viết báo Tiên Phong, tổ chức triển lãm văn hóa và trưng bày bức tranh cổ điển mang tên Độc lập hay là chết tại Hà Nội. Năm 1946, nhân dịp kỷ niệm một năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, ông tham gia Ban Tổ chức triển lãm mỹ thuật tháng Tám, trưng bày hai tác phẩm sơn mài chăn trâu và Nghỉ ngoài trời phơi bày tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, sau đó tham gia giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam và đi vẽ ở Mặt trận Nam tiến vào cuối năm 1946.
Sau khi Toàn quốc kháng chiến kết thúc năm 1947, ông trở thành thành viên Ban Chấp hành Hội Văn hóa kháng chiến Thanh Hóa và Liên khu IV, viết cho Báo chống giặc và Sáng tạo, bày tranh cổ điển, trang trí sân khấu và hóa trang cho đoàn kịch kháng chiến. Năm 1948, ông tổ chức quản lý Liên khu 4 và dạy lịch sử mỹ thuật và hội họa tại Phân trường Mỹ thuật Liên khu 4, biên tập và xuất bản san mỹ thuật và Tạp chí Sáng tạo - cơ quan ngôn luận của Văn hóa kháng chiến Liên khu 4 (1948 - 1950). Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đi vẽ tại Chiến khu Việt Bắc và các cuộc kháng chiến Cự Nẫm, Lệ Sơn, Cảnh Dương, đồng thời tham gia đội giảm tô và cải cách ruộng đất ở Phú Thọ vào năm 1953, và đi vẽ tại chiến dịch Điện Biên Phủ vào năm 1954.
Sau khi hòa bình được thiết lập, ông tham gia Ban Tổ chức triển lãm chào mừng Thủ đô giải phóng Hội Văn nghệ Việt Nam tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội, sau đó công tác tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam và tham gia hoạt động tại Hội Văn Nguyễn Văn Tỵ bắt đầu sáng tác nghệ thuật từ rất sớm. Trong thời gian học dự bị trường Mỹ thuật Đông Dương, ông đã sáng tác các bức tranh sơn dầu và lụa như “Cảnh chùa tháp” và “Chân dung em gái tôi” được trưng bày ở nhiều cửa hàng mỹ thuật. Ông đã tham gia nhiều cuộc triển lãm và giành được nhiều giải thưởng. Trước 1945, ông chuyên về in lụa, sơn dầu và khắc gỗ. Sau đó, ông tập trung vào vẽ tranh sơn mài và hầu hết các tác phẩm nổi tiếng của ông đều sử dụng chất liệu này.
Trong thời kỳ kháng Pháp, mặc dù thiếu thốn, ông vẫn tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm mới, trong đó có nhiều tác phẩm viết về nông dân, binh lính, nhân dân Thái Lan, tác phẩm bằng chất liệu in đá, sơn mài, lụa như “Công sự chiến lũy Ngã Tư Sở ,” “Xe cứu thương,” “Chiếc cầu mới” (tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc chào mừng Hội nghị Văn nghệ toàn quốc 1948), “Bộ đội Hái gạo,” “Biển Cảnh Dương” - lụa, “Ông lão đánh cá” - sơn mài (1951 Triển lãm Mỹ thuật Chiêm Hóa - Tuyên Quang), trong số những người khác. Ông cũng đã viết nhiều bài báo và tiến hành nghiên cứu về mỹ thuật.
Một số tác phẩm của ông được chọn tham gia Triển lãm 12 nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu (1960). Ông tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm khác như “Đứa trẻ đọc sách”, “Vendetta” - sơn mài, “Phong cảnh Chợ Chu” (Cánh đồng Chợ Chu) - sơn dầu (1960), “Thống nhất Bắc Nam”, “Biển ngày 17”. Song tuyến” (1961)... Ông đi nhiều nơi trong nước và nước bạn Lào, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên (3-1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (4-1975). Sử dụng chất liệu và nghiên cứu từ thời kháng Pháp và từ những chuyến đi, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ đã sáng tạo nhiều tác phẩm sơn mài, lụa, chạm khắc như “Mùa gặt” - lụa, “Chiếc nón bộ đội”... Ông tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm khác như “Đứa trẻ đọc sách”, “Vendetta” - sơn mài, “Phong cảnh Chợ Chu” (Cánh đồng Chợ Chu) - sơn dầu (1960), “Thống nhất Bắc Nam”, “Biển ngày 17”. Song tuyến” (1961)... Ông đi nhiều nơi trong nước và nước bạn Lào, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên (3-1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (4-1975). Sử dụng chất liệu và nghiên cứu từ thời kháng Pháp và từ những chuyến đi, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ đã sáng tạo nhiều tác phẩm sơn mài, lụa, chạm khắc như “Mùa gặt” - lụa, “Chiếc nón bộ đội”... Ông tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm khác như “Đứa trẻ đọc sách”, “Vendetta” - sơn mài, “Phong cảnh Chợ Chu” (Cánh đồng Chợ Chu) - sơn dầu (1960), “Thống nhất Bắc Nam”, “Biển ngày 17”. Song tuyến” (1961)... Ông đi nhiều nơi trong nước và nước bạn Lào, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên (3-1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (4-1975). Sử dụng chất liệu và nghiên cứu từ thời kháng Pháp và từ những chuyến đi, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ đã sáng tạo nhiều tác phẩm sơn mài, lụa, chạm khắc như “Mùa gặt” - lụa, “Chiếc nón bộ đội”... Ông đã đi nhiều nơi trong nước và nước bạn Lào, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3 năm 1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (tháng 4 năm 1975). Sử dụng chất liệu và nghiên cứu từ thời kháng Pháp và từ những chuyến đi, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ đã sáng tạo nhiều tác phẩm sơn mài, lụa, chạm khắc như “Mùa gặt” - lụa, “Chiếc nón bộ đội”... Ông đã đi nhiều nơi trong nước và nước bạn Lào, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3 năm 1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (tháng 4 năm 1975). Sử dụng chất liệu và nghiên cứu từ thời kháng Pháp và từ những chuyến đi, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ đã sáng tạo nhiều tác phẩm sơn mài, lụa, chạm khắc như “Mùa gặt” - lụa, “Chiếc nón bộ đội”... Sau khi đồng ý với nhiều họa sĩ trên toàn quốc, Nguyễn Văn Tỵ tập trung sáng tác nhiều tác phẩm hội họa dựa trên ký họa và ký ức từ các chuyến đi thực tế trong thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Sơn mài được sử dụng cho các tác phẩm như Vịnh Hạ Long, Chiến dịch Điện Biên Phủ (1980), Ngày vui (1983), Hạ Long, Đường làng, Chợ Bờ, Mèo (1984), Bên dòng Mê Kông (1985), Hai cô Mường (1986), Hội đánh cồng (1987), Làng Mỗ (1988), Phong cảnh miền núi (1989), Phong cảnh Tây Nguyên, Phong cảnh (1991). Sơn dầu được sử dụng cho Ngày vui và Cảnh Pắc Bó tham dự triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1976. Tranh lụa bao gồm Bác Hồ ở Pắc Bó (1978), Lưới Hải Vân, Mưa giông, Cấy lúa, Bàn đá chông chênh (1981), và Hồi tưởng (1988).
Bút pháp săn sóc, hình ảnh chuẩn xác, bố cục chính tả và phóng đại được thể hiện trong các tác phẩm hội họa và đồ họa của Nguyễn Văn Tỵ, cùng với việc tìm tòi kinh nghiệm để tạo nên một bản sắc riêng [1 ]. Ông cũng đã thiết kế bộ tem Hữu Nghị Quân nhân kỷ niệm quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hòa vào năm 1965 [2].
Ngoài tác phẩm sáng tác, Nguyễn Văn Tỵ còn là một nhà lý luận và phê bình mỹ học, với hơn 200 bài viết được đăng trên báo, giáo trình hoặc tham luận khoa học. Ông đã giảng dạy và đào tạo nhiều thế hệ họa sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và thời gian giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (1956 - 1970). Cuốn sách Bước đầu học vẽ (Nhà xuất bản Văn hóa, 1963, đã tái bản 3 lần) là một giáo trình cam nang hộ
Danh sách các tác phẩm nổi bật bao gồm:
Hải Cô Mường - một bức tranh khắc gỗ trên lụa (kích thước 76 x 45), hoàn thành vào năm 1940.
Nhà tranh gốc mít - một bức sơn mài (kích thước 67 x 105), hoàn thành vào năm 1958.
Du kích Bắc Sơn - một bức sơn mài (kích thước 86 x 121), hoàn thành vào năm 1958.
Thiếu nữ và biển - một bức sơn mài (kích thước 96 x 94), hoàn thành vào năm 1960.
Buồm Cửa Hàn, lưới Cửa Hội - bức sơn mài (kích thước 100 x 180), hoàn thành năm 1960.
Nam Bắc một nhà - bức sơn mài (khổ 86 x 566), hoàn thành vào năm 1961.
Đêm Noel Hà Nội 1972 - bức sơn mài (khổ 100 x 150), hoàn thành vào năm 1973.
Chợ Bờ - một bức sơn mài (kích thước 60 x 90), hoàn thành năm 1984.
Phong cảnh - bức sơn mài (kích thước 150 x 240), hoàn thành năm 1991.
Dưới đây là danh sách các phần thưởng và huân chương đã nhận được:
· Huy chương Vàng tại triển lãm SEDEAI năm 1937
· Huy chương Ngoại hạng tại triển lãm SEDEAI năm 1939
· Huy chương Bạc tại triển lãm quốc tế đồ họa Leipzig năm 1965
· Huy chương Đồng tại triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1995
· Huân chương kháng chiến hạng Nhì
· Huân chương Kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng nhất
· Huân chương Độc lập hạng Ba được trao vào tháng 12 năm 1988
· Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam và Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật vào năm 2001

0 Nhận xét