Diệm Minh Châu, một nghệ sĩ và nhà điêu khắc người Việt, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1919 tại làng Nhật Thành, huyện Đồng Trôm, tỉnh Bế Tre ( hiện là một phần của thành phố Bế Tre ). Xuất thân từ một gia đình nông dân, anh có niềm đam mê vẽ từ nhỏ và được biết đến với cái tên "Châu họa sĩ" trong số những người bạn của anh. Năm 15 tuổi, anh trở về nhà để giúp đỡ gia đình và gặp Hoàng Thủy, tác giả của bức tranh "Đức", và vẫn duy trì niềm đam mê nghệ thuật. Anh đến Hà Nội để tham dự lớp dự bị của Đại học Mỹ thuật Đông Dương và làm công nhân để kiếm sống. Sau khi học một năm, anh trở về nhà.
Năm 1940, ông đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh với số điểm cao nhất tại Đại học Mỹ thuật Đông Dương. Để trả học phí, anh tiếp tục làm họa sĩ bối cảnh cho các buổi biểu diễn đường phố ở Hà Nội. Năm 1942, một số bức tranh của ông như "Mặt trăng mùa thu", "Mong" và "Nông dân" đã thu hút sự chú ý của cộng đồng nghệ thuật. Ông đã giành giải thưởng tại Triển lãm Mỹ thuật Quốc gia, như huy chương đồng cho bức tranh "Đền văn học" ( 1942 ) và huy chương bạc cho bức tranh lụa "Cầu cầu nguyện" ( 1943 ). Ông cũng tham gia vào phong trào sinh viên yêu nước, thúc đẩy việc sử dụng ngôn ngữ quốc gia và thiết kế nghệ thuật cho âm nhạc yêu nước của Liễu Hắcu Phước và các buổi biểu diễn sân khấu của Hiệp hội sinh viên Hà Nội. Tuy nhiên,ông không tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật do cuộc đảo chính của Nhật Bản chống lại sự cai trị của thực dân Pháp. Ông trở về nhà, tiếp tục vẽ, tổ chức triển lãm tại Bang Tre và Mỹ Tho, và gây quỹ để giúp đỡ những người bị nạn đói ở miền bắc. Anh ta tham gia vào Đội quân trẻ và tham gia cuộc nổi dậy chống lại chính quyền ở thị trấn Bế Tre.
Trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, ông đảm nhiệm vai trò làm trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành, Bến Tre. Trong Hồi ký của ông, ông viết rằng "Tôi nuôi dưỡng tình yêu dân tộc cao đến đỉnh điểm, tôi đã vào nhà xếp bút màu và gửi chúng cho má tôi cất giữ. Tôi đã xé giấy thông hành và giấy thuế thân, rồi đi làm việc theo lệnh của cách mạng". Vào cuối năm 1946, ông chuyển sang làm phóng viên và đi theo Vệ quốc đoàn đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc, vùng Đồng Tháp Mười để ghi lại những cảnh lao động, sản xuất và chiến đấu, ví dụ như Phong cảnh Đồng Tháp Mười, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng Lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau... Trong thời gian đó, ông cũng trở nên nổi tiếng với bức tranh Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947), được vẽ tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày), sử dụng chính máu của người chiến sĩ hy sinh [1], và bức tranh Bác Hồ và 3 thiếu nhi Trung Nam Bắc, cũng được vẽ bằng chính máu của mình [4]. Ông đã gửi bức thư đến Chủ tịch Hồ Chí Minh (trong đó ông gọi Chủ tịch là Cha) để bày tỏ khát vọng hòa bình và giải phóng dân tộc khi gửi bức tranh Bác Hồ trên lụa.
Năm 1949, sau khi làm việc tại huyện Châu Thành, Bến Tre, ông được điều đến Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ, thuộc khu 9, do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc. Giữa năm 1950, ông tiếp tục đi công tác tại Việt Bắc, bằng hành trình đi từ Nam Bộ qua Campuchia, Thái Lan và Trung Quốc, mất tới 8 tháng để đến đích. Tại Việt Bắc, ông sống gần với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hơn 6 tháng. Ông đã sáng tác hơn 30 bức tranh về Chủ tịch như Bố cục nhà Bác trên đồi (vẽ trên lụa năm 1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (vẽ bằng sơn dầu năm 1951), Bác câu cá bên bờ suối (vẽ bằng sơn dầu năm 1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (vẽ bằng sơn dầu năm 1951)...
Năm 1952, sau khi được cử sang học điêu khắc tại Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc, ông đã đến Liên Xô và Ấn Độ để nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài trong nhiều tháng trước khi trở về nước. Từ năm 1956 đến khi đất nước thống nhất vào năm 1975, ông đã trở thành giảng viên tại trường Mỹ thuật Việt Nam và đi tu nghiệp một năm tại Ấn Độ vào năm 1957. Trong thời gian này, ông tiếp tục sáng tác với nhiều tác phẩm về chủ đề anh hùng cách mạng như Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ Việt Nam...
Sau 1975, ông trở về Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục sáng tạo và giúp đỡ các nghệ sĩ trẻ. Trong giai đoạn cuối đời, ông hoàn thành các tác phẩm Bác Hồ bên suối Lê-nin bằng thạch cao và Bác Hồ với thiếu nhi bằng đồng đặt trước trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh [1]. Ông đã từng giữ chức Chủ tịch danh dự của Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và là giảng viên của trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam. Ngoài ra, ông còn là Ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam và Chủ tịch Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông đã qua đời vào ngày 12 tháng 7 năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh, khi đã 83 tuổi. Gia đình ông đã thành lập một nhà lưu niệm mang tên của ông để tưởng nhớ đến ông. Năm 1996, nhà nước đã trao tặng ông giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Ông đã sáng tạo hàng ngàn bức tranh và tượng, một số được trưng bày tại bảo tàng ở các quốc gia như Tiệp Khắc, Liên Xô và Ấn Độ. Trong đó, ông đã sáng tác hơn 200 tác phẩm với đề tài Bác Hồ, bao gồm tác phẩm nổi tiếng như Bác Hồ và ba em thiếu nhi Trung -Nam -Bắc (vẽ bằng máu trên tranh lụa năm 1947), Bác Hồ câu cá ở Việt Bắc (tranh sơn dầu kích thước 100 cm x 70), Võ Thị Sáu, Lòng người miền Nam, Miền Nam trên đất Bắc, Phú Lợi, Hương sen, Bác Hồ ở Việt Bắc (tượng đồng năm 1990), Tượng đài Bác Hồ bằng đá hoa cương cao hơn 8m, nặng 180 tấn (1993), dựng tại công viên 23/9 của thành phố Hồ Chí Minh (năm 1997) - được xem là tượng chân dung lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay [6], tượng đài Trương Định (đá hoa cương cao 8m nặng 80 tấn) và Bác Hồ bên suối Lê-nin bằng thạch cao và Bác Hồ với thiếu nhi bằng đồng đặt trước trụ sở Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh. Nhiều tác phẩm của ông hiện được sao chép và trưng bày tại Nhà lưu niệm Diệp Minh Châu.
Ông đã tham gia hơn 50 triển lãm cá nhân và tập thể trong và ngoài nước. Một số trong số đó là:
Tham dự Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1942 và 1943 và giành được huy chương đồng và huy chương bạc.
Triển lãm tranh trước cách mạng và kháng chiến tại Ấp Bắc Mỹ Tho năm 1946.
Tổ chức triển lãm tại Năm Ngàn (Đồng Tháp Mười) vào ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1947.
Tổ chức triển lãm tranh tượng tại xã Thiên Hộ (Đồng Tháp Mười) để kỉ niệm lễ độc lập 2 tháng 9 vào năm 1947.
Tổ chức triển lãm mừng lễ độc lập tại Ngan Dừa Rạch Giá vào ngày 2/9/1948.
Trưng bày nhiều triển lãm khác trong vùng kháng chiến Nam Bộ trong thời gian từ 1948 đến 1949.
Tổ chức Triển lãm tranh chân dung tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 vào năm 1951.
Tổ chức triển lãm cá nhân tại Ba Lan vào năm 1951.
Tổ chức 8 triển lãm cá nhân tại Tiệp Khắc vào năm 1951, trong đó Chính phủ Tiệp Khắc đã mua 4 bức cho Bảo tàng Praha.
Tổ chức triển lãm cá nhân với 100 bức tranh về Ấn Độ tại New Dehli vào năm 1957.
Tính cách của một người là một khía cạnh phức tạp và đa dạng, không thể được miêu tả một cách đơn giản và đúng đắn chỉ bằng một vài từ ngữ. Tuy nhiên, theo những thông tin lưu trữ về ông, Bác Hồ được miêu tả là một người rất kiên nhẫn, quyết đoán, tận tâm với sự nghiệp cách mạng của mình, và cũng là một người rất giản dị và tôn trọng nhân phẩm.
Bác Hồ cũng được miêu tả là một người rất đoàn kết và yêu quý đồng bào. Ông đã dành cả đời mình để chiến đấu cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội cho dân tộc Việt Nam, và được coi là một trong những nhân vật vĩ đại và được tôn trọng nhất trong lịch sử Việt Nam.
0 Nhận xét