Huỳnh Phương Đông, tên thật là Huỳnh Công Nhãn, sinh ngày 22/4/1925 tại Bình Hòa, Gia Định (nay là TP.HCM), quê gốc ở Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Năm 1940, Trường Vẽ Gia Định (École de Dessin) đã thay đổi tên thành Trường Mỹ nghệ Thực hành Gia Định (École des Arts Appliqués de Gia-dinh). Vào năm 1941, khi mới 16 tuổi, Huỳnh Công Nhãn đã tham gia kỳ thi tuyển vào trường và trúng tuyển.
Năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp, Trường Mỹ nghệ Thực hành Gia Định tạm ngưng hoạt động, nhiều học sinh của trường tham gia vào kháng chiến. Trong thời gian đó, Huỳnh Công Nhãn cũng tham gia Hội Thanh niên Tiền phong và làm đoàn viên tuyên truyền tại tỉnh Sóc Trăng. Năm 1946, ông trở lại Sài Gòn và tham gia hoạt động bí mật vẽ biểu ngữ, viết truyền đơn cổ động để ủng hộ phong trào cách mạng của nhân dân trong nội thành. Sau đó, ông được giao nhiều nhiệm vụ tại các đơn vị như: Chi đội số 21 bộ đội Bình Xuyên, Tiểu đoàn 300 Bà Rịa (1950-1951), Tiểu đoàn 300 Bà Rịa - Chợ Lớn (1952), Đoàn chuyển quân tập kết ra Bắc...
Năm 1954, Huỳnh Công Nhãn được tập kết ra Bắc và công tác tại Phòng Tuyên huấn thuộc Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tại Hà Nội. Vào năm 1955, trong khi nữ y tá Lê Thị Thu cùng một người bạn đến thăm một người cậu cũng là họa sĩ quân đội đang công tác trong quân ngũ ở Hà Nội, cô đã có cơ duyên gặp họa sĩ Huỳnh Công Nhãn tại đó. Vào cuối năm đó, chàng họa sĩ đã đến gặp y tá Lê Thị Thu và ngỏ lời tìm hiểu.
Ngày 7/10/1957, Huỳnh Công Nhãn đã khai kết hôn tại Ban đại điện hành chính khu phố 2, TP Hà Nội. Trong đó, họ và tên người chồng là Huỳnh Công Nhãn, nghề nghiệp là cán bộ quân đội (họa sĩ), và họ và tên người vợ là Lê Thị Thu, nghề nghiệp và chỗ ở của người vợ là y tá và Ty Y tế Phú Thọ, tương ứng.
Sau khi kết hôn, ông bà không có điều kiện sống gần nhau. Ông vẫn tiếp tục công tác trong quân ngũ tại Hà Nội. Bà công tác tại Ty Y tế tỉnh Phú Thọ. Khi bà về thăm ông sẽ cùng ở Nhà hạnh phúc (gọi là Chiêu đãi sở, phố Đội Cấn, gần làng hoa Ngọc Hà, Hà Nội). Ông bà có ba người con. Con gái đầu lòng Phương Mai sinh năm 1959. Người con thứ hai chào đời vào năm 1963, được đặt tên là Huỳnh Phương Đông, theo tên gọi tàu vũ trụ Phương Đông. Người con thứ ba là cô út Phương Lan.
“Thời kỳ ông Huỳnh Công Nhãn học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội, ông Quang Phòng - bố tôi - có tham gia giảng dạy tại đó, vào cuối những năm 1950 của thế kỷ trước. Người đầu tiên nói cho tôi biết Huỳnh Phương Đông tên thật là Huỳnh Công Nhãn chính là bố tôi. Ông Nhãn kém bố tôi một tuổi, học xong ông đi B, rồi kể từ sau hòa bình ông ở lại hẳn miền Nam quê hương ông, nên bố tôi và ông rất ít có dịp gặp nhau” - nhà phê bình mỹ thuật Quang Việt viết.
Theo tài liệu đánh máy còn lưu giữ được thì những hội viên đầu tiên của Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 1957 gồm có 123 hội viên, xếp theo vần A-B-C, từ Phan Kế An, Nguyễn Bích, Nguyễn Văn Bình... cho đến Huỳnh Công Nhãn (dòng 20)...
Năm 1963, họa sĩ Huỳnh Công Nhãn nhận quyết định đi B. Ông đã gửi thư về gia đình ở Phú Thọ, có đoạn ghi: “... báo tin cho em, anh đã lấy tên con H.P.Đông làm tên anh một thời gian hoạt động, em sẽ viết thư cho anh bằng tên mới. (ký tên) Nhãn/ Huỳnh Phương Đông”.
“Hơn mười năm đầu đời lớn lên ở miền Bắc, tôi nghĩ tên mình cũng bình thường như tên bao nhiêu bạn bè cùng trang lứa và hoàn toàn chưa hiểu được ba tôi đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng với bút danh là cái tên mà tôi mang theo mình. Và vinh hạnh hơn khi tên của tôi, Huỳnh Phương Đông, được lấy làm bút danh của ba trong suốt hành trình lịch sử ông tham gia làm cách mạng cho đến khi thống nhất đất nước” - con trai Huỳnh Phương Đông chia sẻ.
Từ năm 1963, khi ông vượt qua Trường Sơn vào chiến trường miền Đông Nam bộ và công tác tại Phòng Hội họa Giải phóng (B11), ông đã lấy tên con trai làm bí danh và sử dụng nó như một bút danh chính thức để hoạt động mỹ thuật cho đến năm 2015. Ông đã đi qua nhiều chiến trường để ghi lại hình ảnh sự kiện lịch sử và chân dung các đồng chí, đồng nghiệp, chiến sĩ cách mạng trung dũng kiên cường bằng những bức vẽ sinh động.
Phần lớn tác phẩm vẽ trước năm 1963 của Huỳnh Công Nhãn đã bị thất lạc hoặc bị hủy hoại trong chiến tranh. Tuy nhiên, phần còn lại được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tuy chưa được chúng tôi tiếp cận. Trong khoảng thời gian từ 1963 đến 1975, ông đã sử dụng chữ ký Huỳnh Phương Đông (ký) trên những bức vẽ và những lá thư gửi về gia đình ở Phú Thọ.
Họa sĩ Huỳnh Phương Đông ký họa chân dung để ghi nhớ những khoảnh khắc của người bạn, đồng chí, đồng nghiệp… và lưu giữ kỷ niệm. Với khả năng thị giác nhạy bén, ông đã ký họa được các bức chân dung phản ánh trung thực đặc điểm, cũng như cá tính và tâm trạng nội tại của nhân vật. Ông có khả năng phân tách những chuỗi chuyển động ra thành từng khoảnh khắc, nắm bắt và giữ lại một khoảnh khắc ưng ý nhất để đặc tả trong tranh. Có lẽ năng lực thiên phú đặc biệt này đã làm nên tên tuổi của họa sĩ Huỳnh Phương Đông, ông họa sĩ mà tôi ngưỡng mộ, yêu mến!

0 Nhận xét