NGUYỄN ĐỨC TOÀN

Nguyễn Đức Toàn là một nghệ sĩ ưu tú, nhạc sĩ và họa sĩ Việt Nam, sinh năm 1929 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Ông là con của cụ Nguyễn Đức Thục - một nhà điêu khắc, họa sĩ nổi tiếng của Hà Nội, cho nên ông được học tập và hướng dẫn về hội họa từ cha ngay từ khi còn nhỏ. Người anh họ của ông là danh họa Trần Văn Cẩn cũng đã ảnh hưởng và truyền cảm hứng cho Nguyễn Đức Toàn để yêu thích môn hội họa.

Khi lớn lên, Nguyễn Đức Toàn đã trải qua những trải nghiệm đầy thú vị khi sống trong căn phòng la liệt những bức tranh của cha. Từ khi biết bò, ông đã được cha chỉ dạy cách vẽ và tô màu. Sau đó, ông tiếp tục theo đuổi đam mê và được học vẽ tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tuy nhiên, trong quá trình đó, ông phát hiện ra rằng trong mình còn có niềm đam mê âm nhạc khác cũng đang bùng cháy mãnh liệt. Những ngọn lửa sáng tạo đó đã thúc đẩy ông trở thành một nhạc sĩ tài ba và để lại nhiều đóng góp cho ngành nghệ thuật Việt Nam.

Nhờ những thành tựu trong nghệ thuật và lực lượng vũ trang, Nguyễn Đức Toàn đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba nhằm tôn vinh những đóng góp của ông. Những đóng góp đó đã giúp Nguyễn Đức Toàn trở thành một trong những nghệ sĩ ưu tú và tài năng hàng đầu của Việt Nam.
Vào năm 1944, Nguyễn Đức Toàn bắt đầu học môn vẽ tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ban đầu, hội họa là niềm đam mê chính của ông. Sau đó, vào tháng 8 năm 1945, ông tham gia Cách mạng tháng Tám tại Hà Nội và sáng tác bài hát đầu tiên Ca ngợi đời sống mới. Năm 1946, ông cùng với nhạc sĩ Đỗ Nhuận tham gia Đoàn Kịch Sao Vàng và tham gia kháng chiến chống Pháp.

Trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, ông trở nên nổi tiếng với bài hát Quê em miền Trung du. Bài hát này đã được phát sóng qua song ca của Thái Thanh và Thái Hằng trên Đài Pháp Á trong vùng Pháp tạm chiếm. Ngoài ra, ông còn giữ chức vụ Phó đoàn Đoàn Văn công Việt Bắc và tham gia vào nhiều hoạt động nghệ thuật như diễn kịch, vẽ minh hoạ, trình bày báo và sáng tác âm nhạc. Ông đã tạo ra nhiều tác phẩm như Chiều hậu phương, Lúa mới và một số ca cảnh.

Sau năm 1954, bài hát "Mời anh đến thăm quê tôi" đã đánh dấu một bước chuyển mới trong sáng tác âm nhạc của ông. Trong thời kỳ này, ông đã sáng tác một loạt tác phẩm về các liệt sĩ như "Biết ơn chị Võ Thị Sáu", "Nối gương Lý Tự Trọng", "Bài ca Ngô Mây", "Ca ngợi Trần Thị Lý" và "Ca ngợi Nguyễn Văn Trỗi"...

Trong thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông đã sáng tác nhiều tác phẩm như "Đào công sự", "Bài ca người lái xe", "Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương", "Khâu áo gửi người chiến sĩ"... Sau đó, trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến 1970, ông đã sang Ukraine để học tập và sáng tác nhạc khí như "Sonate cho violon" (được dàn dựng và xuất bản tại Moskva), "Tổ khúc giao hưởng Tổ quốc" (cho dàn nhạc Novosibirk)... Trở về Việt Nam, ông tiếp tục sáng tác các tác phẩm âm nhạc như "Bài ca xây dựng", "Tiếng hát buổi bình minh", "Bài ca chiến thắng"... Sau khi đất nước thống nhất, ông đã chuyển sang sáng tác nhạc nhẹ trữ tình với các bài như "Từ ngày hôm nay", "Tình em biển cả", "Chiều trên bến cảng", "Hà Nội một trái tim hồng".

Năm 2000, ông đã được vinh danh bằng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật cho các tác phẩm như "Quê em", "Biết ơn chị Võ Thị Sáu", "Đào công sự", "Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương", "Tình em biển cả" và "Chiều trên bến cảng".

Ông đã qua đời vào sáng ngày 7 tháng 10 năm 2016 tại Hà Nội, thọ 87 tuổi.

Suốt cuộc đời nghệ sĩ, ông sáng tác không biết mệt mỏi và để lại hơn 100 tác phẩm âm nhạc nhưng Nguyễn Đức Toàn vẫn không thấy hài lòng với bản thân. Ông bảo, nghệ sĩ mà dừng lại ở vài bài là hỏng. Và ở độ tuổi tám mươi, ông vẫn sáng tác, dù biết tác phẩm của mình đã “lạc lõng” với âm nhạc hiện thời. Những lúc không thả mình vào âm nhạc, ông lại cầm cọ vẽ, đi tìm cái đẹp giữa âm thanh và đường nét cuộc sống.

Tranh của Nguyễn Đức Toàn được trưng bày ở nhiều cuộc triển làm, trong các bảo tàng Mỹ thuật lớn trong và ngoài nước. Trong phòng tranh tại nhà riêng của ông, những bức vẽ về Hà Nội và về người lính luôn được Nguyễn Đức Toàn treo ở những vị trí trang trọng nhất. Lần gần đây nhất là năm 2011, ông tổ chức triển lãm tranh cá nhân lần thứ 8 như một khẳng định niềm đam mê không ngừng nghỉ với nghệ thuật.

Cố nhạc sỹ Nguyễn Đình Phúc, bạn vong niên của nhạc sỹ, họa sỹ Nguyễn Đức Toàn từng nhận xét: Mỗi ngôi sao thường chỉ tỏa sáng ở một vùng trời, nhưng Nguyễn Đức Toàn lại thành công ở cả hai lĩnh vực âm nhạc và hội họa. Nhạc phẩm của Nguyễn Đức Toàn đầy màu sắc và hình tượng, trong khi đó mỗi bức vẽ lại dạt dào những giai điệu. Xem các bức tranh về phố cổ của Toàn, người ta thật dễ liên tưởng đến ca khúc “Hà Nội trái tim hồng”; ngắm bức tranh sóng biển bạc đầu, lòng ta lại lâng lâng giai điệu “Tình em biển cả”; thưởng thức bức tranh mùa lúa chín, ta không thể không tìm về giai điệu ca khúc “Quê em”…/.

Tác phẩm tiêu biểu:

Bài ca chiến thắng


Bài ca Ngô Mây


Bài ca người lái xe


Bài ca xây dựng


Bé nhè


Biển muôn đời vẫn thế


Biết ơn chị Võ Thị Sáu (1958)


Ca ngợi đời sống mới (1945)


Chú mèo con


Ca ngợi Nguyễn Văn Trỗi


Ca ngợi Trần Thị Lý


Câu chuyện tình yêu


Chiều hậu phương


Chiều trên bến cảng (1978)


Chuyện ngày xưa


Đảng là cuộc sống của tôi


Đào công sự


Giải phóng (hợp xướng 4 chương, 1970)


Hà Nội, một trái tim hồng


Khâu áo gửi người chiến sĩ


Lời ước nguyện về 1000 năm Thăng Long (cantate năm chương, 2010)


Lúa mới


Mời anh đến thăm quê tôi (1954)


Ngập ngừng


Nguyễn Viết Xuân, cả nước yêu thương


Noi gương Lý Tự Trọng


Sonate viết cho violon (khí nhạc)


Quê em miền trung du (1946)


Tiếng hát buổi bình minh


Tình em biển cả


Tổ quốc (tổ khúc giao hưởng) (1971)


Từ ngày hôm nay


Em yêu hòa bình (nhạc thiếu nhi)


Đăng nhận xét

0 Nhận xét