Sau khi hoàn thành học tại Trường Thương mại, Văn Cao đã làm việc tại Sở dầu Hải Phòng và Nhà máy đèn Đáp Cầu. Từ năm 1927 đến 1932, ông theo học khóa 3 tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Nhờ biết chữ Nho, ông có thể trang trí tranh rất đẹp và đã đạt giải thưởng áp phích Đấu xảo Paris năm 1931. Ngoài ra, ông còn tham gia vẽ tranh tại Lào Cai vào năm 1929 và tại Thanh Hóa, Nghệ An vào năm 1930.
Học nghề sơn ta qua nghệ nhân Đinh Văn Thành, kết hợp nghiên cứu đồ sơn ở Viện Viễn Đông Bác Cổ, Trần Quang Trân đã sử dụng vàng quỳ rây vụn (bột vàng) và bột son trên nhiều lớp sơn, qua khâu mài, để tạo ra các sắc độ và ánh sáng. Đây chính là kỹ thuật nền tảng để sau đó các họa sĩ Phạm Hậu, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang, Nguyễn Gia Trí đã hoàn thiện và đẩy lên thành kỹ thuật sơn mài cổ điển đồng nhất (laque unie), làm nên một thời kỳ vàng son của hội họa sơn mài Việt Nam.
Ra trường tại Hà Nội, ông mở xưởng sơn mài ở 87 phố Charron (nay là phố Mai Hắc Đế) và ở phố Tố Tịch làm hàng và sửa chữa đồ cũ, đồng thời sáng tác một số tác phẩm trên đồ vị lợi, vẽ minh họa và phụ bản cho một số báo: “Bắc Kỳ Thể thao”, “Đông Tây”, “Tiểu thuyết Thứ Bảy”, “Cậu ấm”, “Vịt đực”. Đầu những năm 1940, ông bắt đầu sự nghiệp dạy vẽ tại các trường tư thục Thăng Long, Gia Long và từ năm 1949 tại Đại học Mỹ thuật Việt Nam.
Từ năm 1958-1962 Trần Quang Trân làm việc tại Xưởng phim truyện Việt Nam, Xưởng phim hoạt hình Việt Nam và tham gia giảng dạy tại Trường Điện ảnh Việt Nam.
| Chùa Bà, Hà Nội. Năm sáng tác: 1935. Chất liệu: Màu nước. Bộ sưu tập Nghệ thuật Phúc Lâm, Hà Nội |
Trần Quang Trân được ghi nhận là một trong những họa sĩ đầu tiên quan tâm đến tranh sơn mài và là một trong những người sáng tạo nhất, chịu ảnh hưởng của giáo sư, họa sĩ Joseph Inguimberty . Mặc dù vậy, ông chỉ để lại một số lượng tác phẩm nghệ thuật khiêm tốn mà ngày nay cực kỳ hiếm. Đa số là tranh sơn dầu, màu nước, tranh wash và tranh than. Không có bức tranh sơn mài nào khiến ông khá nổi tiếng lúc bấy giờ còn tồn tại đến ngày nay. Bức tranh nổi tiếng “Ao nước lấp lánh” của ông chắc chắn là bức tranh sơn mài đầu tiên được thực hiện ở Đông Dương. Bức tranh này được cho là đã truyền cảm hứng cho bậc thầy sơn mài Việt Nam Nguyễn Gia Trí. Nó thuộc bộ sưu tập của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Nó có lẽ đã bị phá hủy hoặc bị đánh cắp trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh Đông Dương.
Là một họa sĩ, nhưng Trần Quang Trân luôn luôn có phong thái của một nhà nho. Ông có sở thích vẽ sư sãi, các công trình kiến trúc cổ, cây cối, mặt nước, với bút pháp ngả về cổ điển. Bức tranh “Phù vân” là một thử nghiệm khá lạ của Trần Quang Trân, khi ông kết hợp kỹ thuật vẽ thuốc châu Âu với kỹ thuật đồ họa thư pháp Á Đông, để tạo ra được một kiểu không gian hư ảo như tiên giới, không Tàu mà cũng chẳng Tây, mang đậm một cảm thức thiền, gần gũi, không xa cách...
Nhiều họa sĩ trẻ đã sáng tạo bằng cách sử dụng các loại vật liệu mới như vỏ ốc, vỏ trứng, vỏ trai, vỏ sò... để tạo ra các hiệu ứng trừu tượng. Công chúng yêu nghệ thuật tranh sơn mài có thể nhận ra sự đa dạng và phong phú của các chất liệu mới này. Những chất liệu mới không giới hạn trong quá trình sáng tạo tranh sơn mài đương đại, dù cho phong cách và xu hướng nào cũng đều phản ánh thế giới hiện thực.
Chất liệu sơn mài là một trong những yếu tố hấp dẫn trong nghệ thuật, mang lại giá trị độc đáo, bền chắc và sang trọng. Điều này đã thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ họa sỹ Việt Nam để nghiên cứu và sáng tạo trên chất liệu này. Những tác phẩm của các họa sỹ đương đại như Lê Văn Thìn, Bùi Hữu Hùng, Nguyễn Trường Linh, Chu Viết Cường, Đào Quốc Huy... đã thể hiện một cách nhìn sáng tạo và đa chiều của tranh sơn mài đương đại, giúp tái hiện cuộc sống hiện thực thông qua giá trị nghệ thuật. Một ví dụ điển hình là tác phẩm "Tình yêu màu vàng" của họa sỹ Lê Văn Thìn. Ông đã tiếp tục sáng tác cho đến những năm cuối đời và qua đời vào năm 1969.
0 Nhận xét