DƯƠNG BÍCH LIÊN

Dương Bích Liên, một nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam, đã đạt được thành công lớn trong việc vẽ chân dung thiếu nữ, chẳng hạn như trong các tác phẩm "Phố Phái" và "Gái Liên". Anh cũng thuộc nhóm bốn nghệ sĩ hàng đầu trong giới nghệ thuật Việt Nam, được gọi là “Nghiêm, Liên, Sáng, Phái”. Sinh ra trong một gia đình trí thức giàu có ở Hà Nội, Dương Bích Liên là con thứ hai của một vị quan tỉnh, có một anh trai, một em trai và một em gái. Quê ông là Phú Thị, tổng Mễ Sở, phủ Khoái Châu (nay là thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Dòng họ Dương ở Khoái Châu có truyền thống khoa bảng, nhiều thành viên văn chương xuất sắc, đỗ đạt cao. Dương Bá Trạc, một nhà nho yêu nước trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, là cậu ruột của Dương Bích Liên. Sinh ra trong một gia đình quyền thế và giàu có nhưng Dương Bích Liên lại bén duyên với nghệ thuật từ năm 17 tuổi và quyết định theo đuổi lối sống phóng túng hơn. Năm 1941, ông gặp họa sĩ Hoàng Lập Ngôn, người vừa thiết kế xong chiếc xe ngựa của riêng mình, ông đặt tên là “Nhà Lăn Mê Ly”. Hoàng Lập Ngôn đã dùng chiếc xe này làm phương tiện đi lại, vẽ người và cảnh khắp nơi. Dương Bích Liên cùng nhóm Hoàng Lập Ngôn đi xe bò xuyên Việt.


Tuy nhiên, cuộc hành trình của họ đã bị cắt ngắn khi họ đến Thanh Hóa, nơi chính quyền địa phương lầm tưởng rằng họ đang gây rối và bắt đầu tìm kiếm họ. Dương Bích Liên cuối cùng đã bị bắt và được gia đình đưa về nhà. Sau hành trình định mệnh này, Dương Bích Liên quyết định đăng ký vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương để theo đuổi con đường nghệ thuật của mình.

Dương Bích Liên, một trong số các học trò cuối cùng của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học khoa Hội họa khóa XVIII (1944-1945).

Vào năm 1946, ông cùng một số nhân tài văn nghệ sĩ Hà Nội tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông làm việc trong đoàn kịch của Phạm Văn Khoa, Đoàn văn công của Nguyễn Xuân Khoát và Đoàn Văn hóa phản chiến cùng với các họa sĩ vẽ tranh Tô Ngọc Vân, Thế Lữ... và xuất bản báo "Vệ quốc đoàn".

Vào năm 1949, ông trở thành một trong những họa sĩ lần đầu tiên được nạp Đảng tại vùng kháng chiến, cùng ngày với họa sĩ Mai Văn Hiến và nhà văn Trần Đăng.

Vào năm 1952, ông được giao nhiệm vụ quan trọng lên chiến khu gần đây để vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức tranh "Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc" của ông Hấp giải nhất tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980 và hiện được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Tác phẩm này đã được công nhận là Bảo vật quốc gia (số 21, đợt 6) vào năm 2017.

Sau khi tốt nghiệp khóa XVIII (1944-1945) khoa Hội họa tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Dương Bích Liên tham gia kháng chiến chống Pháp vào năm 1946 cùng với nhiều trí thức văn nghệ sĩ Hà Nội. Ông hoạt động trong đoàn kịch của Phạm Văn Khoa, Đoàn văn công của Nguyễn Xuân Khoát và Đoàn Văn hóa phản chiến cùng nhiều họa sĩ như Tô Ngọc Vân và Thế Lữ, đồng thời tham gia báo "Vệ quốc đoàn".

Năm 1949, Dương Bích Liên là một trong những họa sĩ lần đầu tiên được gia nhập Đảng tại chiến trường kháng chiến, cùng với họa sĩ Mai Văn Hiến và nhà văn Trần Đăng.

Năm 1952, ông được giao trọng trách lên chiến khu gần đó để vẽ chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm "Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc" của ông đã đoạt giải nhất Triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1980 và hiện được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Tác phẩm này đã được công nhận là Bảo vật quốc gia (số 21, đợt 6) vào năm 2017.

Sau khi trở về thủ đô Hà Nội năm 1954, Dương Bích Liên được tổ chức biên chế vào "tổ sáng tác" cùng với các họa sĩ Bùi Xuân Phái và Nguyễn Sáng. Năm 1968, ông đi thực tế tại mỏ than Quảng Ninh cùng với các họa sĩ: Nguyễn Tiến Chung, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng và Huỳnh Văn Gấm.

Giai đoạn sáng tác mạnh nhất của Dương Bích Liên là vào mùa thu năm 70. Trong khoảng thời gian này, anh đã gửi các tác phẩm của mình tham gia dự án triển lãm. Tuy nhiên, nhiều tác phẩm của ông, như bức Hào và bức Bác Hồ kể chuyện với Vệ Quốc Quân, đã bị loại sớm. Riêng bức "Bác Hồ nói chuyện với người lính Vệ Quốc

Dương Bích Liên mất tại 55A Bà Triệu, trước đó đã đổi địa chỉ đăng ký sang nhà Phan Kế An ở 72 Thợ Nhuộm. Anh ta chọn một cái chết lặng lẽ, không bệnh tật hay đau đớn, chỉ đơn giản là từ chối thức ăn và chỉ uống rượu.

Trong những ngày cuối đời, nhà sưu tập tranh Nguyễn Hào Hải và hai cháu gái (con của em trai ông Dương) thường xuyên đến thăm họa sĩ. Sau khi Dương mất, Hào Hải viết bài về 20 ngày cuối đời của họa sĩ đăng trên tạp chí Mỹ thuật.

Trước khi qua đời, Dương có tâm nguyện cuối cùng: “Đến ngày tiễn đưa con về bên kia bờ cõi, con không muốn ai làm người lớn, con muốn được tiễn đưa một đứa trẻ ăn mặc đàng hoàng, vững vàng bước đi bên cạnh. chiếc xe ngựa chở thi thể vô hồn của tôi đến nghĩa trang."

Dương Bích Liên qua đời vào khoảng 9 giờ sáng ngày 12 tháng 12 năm 1988. Đêm hôm trước, Nguyễn Hào Hải trò chuyện với nghệ sĩ đến gần 2 giờ sáng mới về đến nhà. Khi hàng xóm của Dương, Phan Kế Bảo, gõ cửa vào sáng hôm sau, không có câu trả lời. Liếc qua khe cửa, anh thấy cánh tay của Dương buông thõng xuống giường. Ông vội vàng thông báo cho các cháu gái của Dương và đến Viện Triết học để báo tin cho Nguyễn Hào Hải.

Đáng tiếc, tang lễ của Dương Bích Liên không được diễn ra theo nguyện vọng của anh. Vài tháng sau khi nghệ sĩ qua đời, các nhà làm phim đã tái hiện lại toàn bộ lễ tang của người bạn thân và tri kỷ của họ. Trong phim, một cậu bé mặc trang phục kiểu Âu vững chãi đi sau chiếc xe ngựa chở linh cữu, rải những cánh hoa ven đường trên nền hoàng hôn buông xuống.

Dương Bích Liên, một trong bốn họa sĩ Nghiêm, Liên, Sáng, Phái, đã chọn sự im lặng của hội họa lối sống của mình và không được biết đến rộng rãi. Anh sống một mình trong căn nhà nhỏ ở 55 Bà Triệu, chỉ có một cái giường nhỏ, một cái võng và một cái bàn một ghế độc nhất. Ông không có gia đình và bạn bè nhiều, mà chỉ có hai người bạn thân là Bùi Xuân Phái và Nguyễn Sáng.

Phan Cẩm Thượng, một nhà phê bình nghệ thuật, đã miêu tả ông là một người mơ mộng và tinh tế, không bám vào một bối cảnh hay các bộ phận tưởng tượng cụ thể, mà thường đứng ngoài và quan sát chính các tác động sản phẩm của mình như một sự kiện hiện hữu có thực, hoặc như một chuyện bịa, cảnh nằm mơ. Tuy nhiên, anh ấy đã dành cả cuộc đời để theo đuổi nghệ thuật, thậm chí còn lơ đãng và quên mất bản thân mình.

Dương Bích Liên, họa sĩ cách mạng tiên phong trong nghệ thuật hội họa Việt Nam, được biết đến với tài năng và đam mê vẽ tranh. Ngay cả khi cuộc chiến tranh đang hoành hành, ông vẫn kiên trì ở lại vẽ tranh. Tác phẩm của ông là một kho báu quý giá trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam và đã được nhà nước vinh danh qua Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

Mặc dù Dương Bích Liên không muốn giữ lại các tác phẩm của mình sau khi đã qua đời, nhưng hàng trăm bức tranh của anh vẫn được giữ lại nhờ sự yêu mến của bạn bè.

Ông nghiên cứu và đam mê nhiều phong cách và trào lưu nghệ thuật thế giới, nhưng chủ yếu ông thích vẽ chân dung và thiếu nữ. Các tác phẩm của anh ấy có thể thể hiện rất mượt mà, độc đáo và siêu thoát, bao gồm nhiều loại như sơn mài, sơn dầu, phấn màu và màu than.

Đề tài và Tác phẩm nổi tiếng

Dương Bích Liên được biết đến với nhiều tác phẩm đề tài phụ nữ, chiếm tới 2/3 tác phẩm của ông. Các tác phẩm này được đánh giá là tuyệt tác của hội họa Việt Nam hiện đại như "Phố Phái" và "Gái Liên". Trong đó, đề tài thiếu nữ là chủ đề được ông ưu ái và sáng tác nhiều nhất, với bao tình cảm ưu ái và trìu mến. Nhân vật nữ luôn là nguồn cảm hứng, trung tâm của những người biểu cảm thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ. Chân dung thiếu nữ của ông rất đa dạng, thể hiện sự dung dị, thánh thiện trong trẻo, và là những cô gái đẹp ông nhận ra và bắt gặp trong cuộc sống đời thường.

Dương Bích Liên có nhiều tác phẩm nổi tiếng, bao gồm "Đi học đêm" (sơn dầu), "Ngày mùa" (sơn dầu), "Chiều vàng" (sơn mài), "Chiều biên giới", "Liều hoang" , "Dĩ vãng", "Hai em bé bên sông Hồng", "Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc" (1980), "Hào", "Đi cấy sau mùa lũ", "Chân dung thiếu nữ", "Thiếu nữ" và hoa cúc trắng", "Thiếu nữ và hoa phong lan", "Thiếu nữ bên hồ", "Thiếu phụ", "Chân dung", "Tuyết Mai", và "Gửi lời chào Jacqueline Picasso".

Đăng nhận xét

0 Nhận xét